Tag Archives: Ngũ uẩn

[GNCS 4] HIỂU VỀ NGŨ UẨN

Tôn chỉ của đạo Phật là diệt khổ ngay trên cõi đời này chứ không trốn đời bởi vì khi ta quán chiếu để thấy rằng cuộc đời là vô thường, là vô ngã, là khổ não, là tịch tịnh thì ở đâu cũng thanh tịnh, làm việc gì cũng an vui tự tại. Vì vậy ta không còn bám vào ngũ uẩn và thủ uẩn để đi đến diệt hết nỗi khổ trên đời. Nắm vững giáo lý Ngũ uẩn chính là bài học diệt khổ để sống an vui tự tại ngay trên cõi đời này. Bài viết được mình tóm tắt, tổng hợp lại từ các tài liệu trên website: http://phatgiao.org.vn/ 🙂

I. Ngũ uẩn là gì?

Theo tinh thần Phật giáo, con người được sinh ra là do sự hòa hợp của nhiều nhân duyên, của tất cả những nghiệp duyên có từ trong những đời quá khứ từ trước mà tạo ra trong kiếp này. Do vậy thân con người là sự kết hợp, tạo thành của ngũ uẩn biểu thị thành hai phần: phần thân xác (gọi là sắc) và phần tâm linh (gọi là danh), nên được gọi là danh sắc (danh sắc là một mắt xích trong 12 mắt xích, nói trong giáo lý Mười hai nhân duyên). Phần sắc tức là phần vật chất, là phần thân xác của con người, có hình dáng vật lý, gọi là sắc uẩn. Phần danh tức là phần tinh thần hay tâm linh không có hình sắc bao gồm thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Vậy ngũ uẩn là một danh từ dùng chỉ cho con người được biểu thị bằng năm thành phần là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Con người phải có đầy đủ cả vật chất và tinh thần hay còn gọi là tâm linh, tâm lý, tâm thức, nghĩa là phải có đầy đủ năm uẩn xếp theo thứ tự : sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nói một cách ngắn gọn Ngũ uẩn chỉ cho con người bao gồm Sắc là thể xác, Thọ là cảm giác, tình cảm, Tưởng là tri giác, lý trí, Hành là ý chí quyết đinh, Thức là nhận thức.
1. Sắc uẩn
Sắc uẩn tức là phần vật chất của thân con người tiếp xúc với ngoại cảnh.Trong sắc uẩn có các căn và các trần tương ứng. Các căn gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tương ứng với sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Trong đó:

– Sắc trần : cảnh sắc mà mắt nhìn thấy bao gồm tất cả những vật thể có hình dạng từ cái to nhất đến cái nhỏ nhất.
– Thanh trần: âm thanh mà tai nghe được gồm tiếng nói, tiếng cười, tiếng khóc v.v…của con người ; tiếng động của trời đất vũ trụ như tiếng sấm, tiếng gió rít, tiếng sóng vỗ v.v… do thiên nhiên gây ra ; âm thanh của  các vật thể có tác động của con người như tiếng chuông, tiếng trống, tiếng mõ v.v…do con người tác động mới có.
– Hương trần: mùi do mũi ngửi được bao gồm mùi thơm, hôi thối v.v…do con người và thiên nhiên gây ra.
– Vị trần: mùi vị do lưỡi nếm được như cay, đắng, ngọt, bùi v.v…
– Xúc trần: cảm xúc do thân biết được như đói, no, khát, nóng, lạnh, mềm, rắn, ngắn, dài, to, nhỏ v.v…
– Pháp trần: cảnh biết do ý thức nhận được, nghĩa là tất cả những gì là đối tượng của ý, của nhận thức đều gọi là pháp.
2. Thọ uẩn
Thọ uẩn là sự thụ nhận sáu trần bởi sáu căn. Sự thụ nhận hay cảm nhận đó có được do từng căn trong sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc tương ứng với từng trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). thiệt căn thụ nhận vị trần, thân căn thụ nhận xúc trần, ý căn thụ nhận pháp trần. Ví dụ:

– Nhãn căn thụ nhận sắc trần: Khi mắt nhìn một bông hoa đẹp thì cảm nhận được màu sắc tươi sáng, vẻ thanh lịch của bông hoa đó làm cho ta vui vẻ, khoan khoái. Khi nhìn một dòng sông rộng, nước chảy xiết, đỏ màu phủ sa làm cho ta thấy lo ngại khi phải bơi qua vì sông rộng và nước chảy xiết. Khi nhìn thấy một tà áo dài tha thướt làm cho ta cảm nhận thấy cái duyên dáng, cái thanh tao của tà áo hay của người mặc áo. Vậy do mắt (nhãn căn) tiếp xúc với cảnh vật (sắc trần) mới có thọ uẩn.
– Nhĩ căn thụ nhận thanh trần: Khi tai nghe một bài thuyết trình của một diễn giả danh tiếng thì cảm nhận được cái hay, cái ý nghĩa của từng lời nói làm cho ta xúc động, ta vui hay thích. Nhưng nếu tai nghe những lời khiếm nhã của một kẻ nào đó thì lòng cảm thấy buồn bực. Tai nghe một bản nhạc hay thì cảm nhận được cái vui, cái buồn của bản nhạc đó khiến cho tâm hồn ta rung động. Vậy do tai (nhĩ căn) tiếp xúc với âm thanh (thanh trần) mới có thọ uẩn.
– Tỷ căn thụ nhận hương trần: Khi ta bước vào chính điện cùa một ngôi chùa, mũi ta ngửi thấy mùi hương bay thơm một cách nhẹ nhàng thoang thoảng ta cảm nhận thấy tâm hồn thư thái thanh tịnh, hoặc khi mũi ta ngửi những làn hương thơm ngào ngạt khi ta đứng trước một vườn hoa, ta cảm thấy vui, nhưng khi ta đi qua một bãi rác bốc mùi hôi thối thì ta cảm thấy khó chịu. Vậy do mũi (tỷ căn) tiếp xúc với mùi hương (hương trần) mới có thọ uẩn.
– Thiệt căn thụ nhận vị trần: Khi lưỡi ta nếm được món ăn ngon, ta cảm nhận được vị thơm ngon làm cho ta vui thích, sung sướng, hoặc khi lưỡi ta đụng phải vị cay của ớt thì ta cảm nhận vị cay đó làm ta khó chịu. Vậy do lưỡi (thiệt căn) tiếp xúc với mùi vị (vị trần) mới sinh ra thọ uẩn.
– Thân căn thụ nhận xúc trần: Khi tay nhận món quà của người trao tặng thì cảm thấy vui. Khi tay ta sờ vào một chiếc áo lông ta cảm thấy sự mềm dịu làm ta vui thích hoặc tay ta sờ phải cái gai thì cảm nhận thấy đau. Vậy do tay (thân căn) tiếp xúc với vật thể (xúc trần) mới có thọ uẩn v.v… 

=> Tất cả những cái đó là sự thụ nhận tức là thọ uẩn. Bản thân các căn riêng biệt (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà không có sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) thì không thể có thọ nhận được, tức không có thọ uẩn. Như vậy thọ có được là do có sự tiếp xúc giữa các căn và các trần tương ứng.

Trong Phật giáo, thọ được chia làm ba loại: lạc thọ, khổ thọ và vô ký thọ.
– Lạc thọ là sự cảm nhận được niềm vui, cái sung sướng ở thế gian do sự tiếp xúc mà ra.
– Khổ thọ là cảm nhận nỗi buồn, sự đau khổ hay bất hạnh do cuộc đời đưa đến.
– Xả thọ hay vô ký thọ là không vui cũng chẳng buồn. Lúc nào cũng trước sau như một. Ví như mắt thấy đối tượng nào đó mà lòng vẫn dửng dưng, chẳng vui mà cũng chẳng buồn.

3. Tưởng uẩn
Tưởng uẩn là sự nhận biết các tri giác như màu sắc, âm thanh, mùi vị…Sau  khi đã có thọ uẩn để thấy được các cảnh khổ vui, xấu đẹp và sau đó bắt đầu so sánh phân biệt. Đó chính là giai đoạn tưởng uẩn. Nếu không có sự so sánh, phân biệt của tưởng uẩn thì tất cả các pháp đều bình đẳng như nhau. Vì thế cần phải có tưởng uẩn mới phân biệt tất cả các sự vật hiện tượng. Đó là tác dụng của tưởng uẩn. Ví dụ khi người ta nhìn một cành hoa hồng, cành hoa đó, màu sắc đó là sự thọ nhận tức thọ uẩn. Nhưng để phân biệt so sánh với các loại hoa hồng khác hay với các loài hoa khác thì phải cần đến tưởng uẩn, nó được lưu lại trong tâm.

4. Hành uẩn
Hành có nghĩa là tạo tác, là thực hiện bằng lời nói, bằng việc làm, bằng suy nghĩ điều gì đó, tức là thực hiện tạo tác bằng thân, khẩu, ý, tất cả đều gọi là Hành. Hành uẩn là những hoạt động tâm lý sau khi có tưởng uẩn. Sau khi so sánh phân biệt (qua giai đoạn tưởng uẩn), thì ý niệm (tư duy, suy nghĩ) tức là tưởng uẩn bắt đầu thực hiện ý đồ nên đã sai khiến thân (chân tay) và khẩu (miệng nói) thực hành những gì ý muốn. Việc thực hiện này chính là hành trong giai đoạn hành uẩn. Vì thế ý nghiệp là nhân, còn thân nghiệp  khẩu nghiệp là kết quả của nó. Vậy hành uẩn là việc thực hiện những hành động tạo tác gây ra các nghiệp thiện và ác trên đời.

5. Thức uẩn
Thức tức là sự nhận thức, nhận biết được cái gì đó. Vì vậy, thức uẩn là cái được hình thành do sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà tạo nên. Đó là sáu thức. Chính sáu thức là cái giúp cho người ta phân biệt được màu sắc, âm thanh, mùi vị… Ngoài ra, thức uẩn còn chính là cái kho chứa những ý thức, tư duy, suy nghĩ, kỷ niệm, các chủng tử, ký ức…giúp cho việc thực hành hành uẩn, tạo ra nghiệp lực. Thức bao gồm tám loại khác nhau gồm năm thức đầu tiên, còn gọi là Tiền ngũ thức. Đó là nhãn thức (cái hiểu biết của mắt), nhĩ thức (cái biết của tai), tỷ thức (cái biết của mũi), thiệt thức (cái biết của lưỡi), thân thức (cái biết của thân), rồi đến Ý thức (cái biết của ý là thức thứ sáu), Mạc na thức (thức thứ bảy) và A lại gia thức (thức thứ tám) hay còn gọi là Tàng thức là cái kho chứa mọi hiểu biết, kinh nghiệm, tư duy, chủng tử, ký ức, thói quen, nghiệp lực, nó quyết định cuộc sống kế tiếp của con người.

II. Nhiệm vụ của từng uẩn trong Ngũ uẩn

1. Nhiệm vụ của sắc uẩn: Sắc uẩn có nhiệm vụ tạo sự tiếp xúc giữa con người với cảnh vật bên ngoài, nghĩa là căn tiếp xúc với đối tượng tương ứng của nó là trần.
2. Nhiệm vụ của thọ uẩn: Thọ uẩn có nhiệm vụ cảm nhận những cảm giác từ sắc uẩn, nhưng những cảm nhận đó là cái biết chưa phân biệt được, vì vậy nó phải nhờ vào tưởng uẩn.
3. Nhiệm vụ của tưởng uẩn: Một khi đã có thọ uẩn, tức là đã có cảm giác nhưng chưa phân biệt rõ rệt được những cảm giác đó như thế nào thì những cảm giác và cái biết đó được đưa thẳng vào hệ thống trung ương thần kinh não bộ tức là bộ óc, từ đó tưởng uẩn mới phân biệt và so sánh rõ cái hay, cái dở, cái vui, cái buồn, cái đẹp cái xấu. Nhiệm vụ của tưởng uẩn là so sánh, phân biệt những thọ uẩn. Tưởng uẩn là cái biết có so sánh phân biệt.
4. Nhiệm vụ của hành uẩn: Nhờ tưởng uẩn làm nhiệm vụ so sánh, phân biệt dẫn đến tư tưởng thích hay không thích, vui hay buồn, muốn hay không muốn thì tư tưởng biến thành ý để sai khiến thân và khẩu thực hành những gì nó muốn, đó là nhiệm vụ của hành uẩn. Hành uẩn tạo ra nghiệp do ý nghiệp sai khiến thân nghiệp và khẩu nghiệp thực hiện. Những nghiệp đó dẫn dắt con người sinh tử luân hồi trong các kiếp và khắp các cõi.
5. Nhiệm vụ của thức uẩn: Nhưng khi tưởng uẩn tạo ra sự so sánh phân biệt thì tự nó không thể làm được mà phải nhờ vào thức uẩn. Vì nhờ có thức uẩn chứa đựng những cái biết, những kinh nghiệm, ký ức, kỷ niệm, các chủng tử thiện và ác nằm trong tàng thức, thì tưởng uẩn mới có cái để so sánh phân biệt, từ đó mới dẫn đến việc thực hiện những gì nó muốn, mới đưa đến hành uẩn mà thực hiện nghiệp lực được.

III. Ngũ uẩn trong cuộc sống con người

Trong buổi đầu thuyết giảng tại Vườn Lộc Uyển, Đức Phật đã thuyết về Tứ Diệu đế như sau: “…Này các tỷ kheo, đây chính là Khổ thánh đế: sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ; thân ái biệt li là khổ, cầu không được là khổ và chấp thủ năm uẩn là khổ…” .

Trong tám cái khổ đó, cái khổ cuối cùng là Ngũ ấm xí thạnh khổ tức là cái khổ do hiện hữu năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), do sự phát huy mạnh mẽ của năm uẩn, chính là cái khổ do chấp thủ vào ngũ uẩn gây ra.

Đạo Phật cho rằng khổ đau của con người có nguồn gốc sâu xa từ trong tâm thức. Các bản kinh của Phật giáo khi đề cập đến nguyên nhân khổ đau của con người đều nói đó chính là lòng tham. Do tham ái mà con người ta cố bám víu vào các đối tượng của tham ái, sự khao khát về dục lạc sẽ dẫn đến nỗi khổ niềm đau kéo dài liên miên vì lòng khao khát tham ái không bao giờ dừng, không bao giờ thỏa mãn. Phật giáo cũng chỉ ra rằng nguyên nhân sâu xa hơn và là nguyên nhân căn bản đó là vô minh, là si mê, vì không thấy rõ bản chất của sự vật và hiện tượng đều do duyên sinh, đều vô ngã và vô thường. Vì thế cho nên con người ta chỉ thấy “cái tôi” và “cái của tôi” là quan trọng nhất. Rõ ràng nếu không chấp ngã và dục vọng, không bị vị kỷ hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm con người thì cuộc đời đầy an lạc và hạnh phúc. Vì vậy muốn nhổ cái gốc Vô minh gây đau khổ cho chúng sinh thì phải nhổ tận gốc cái chấp ngã với việc áp dụng giáo lý Mười hai nhân duyên  Ngũ uẩn.

Chính vì Ngũ uẩn thường ngăn che tâm trí của con người như bóng mây thường che ánh nắng mặt trời, nên những dục vọng, những ham muốn và lòng tham của con người luôn luôn phát triển làm cho con người mê muội không nhận thấy cái Ta thật tính, tức cái tính Phật sẵn có trong mỗi con người. Và khi càng mê muội, càng theo đuổi dục vọng nên con người càng bị lấn sâu vào khổ đau và tội lỗi. Một số người do nhận thức cho rằng thân ngũ uẩn là gánh nặng làm cho đau khổ, họ có tư tưởng thoát ly thân ngũ uẩn để tìm đến Niết bàn an vui. Đây là nhận thức sai lầm lớn bởi vì cần thấy rằng thân tứ đại tuy mong manh, vô thường và do ngũ uẩn tác động làm cho đau khổ, nhưng đoạn diệt thân ngũ uẩn là cả một vấn đề vô cùng nguy hiểm, khi con người ta chưa đi đến đắc đạo.

Như trên đã nói một trong tám nỗi khổ mà Đức Phật đã tuyên giảng trong Tứ Diệu đế là Ngũ uẩn xí thạnh khổ. Hay nói khác đi để cho các uẩn hưng thịnh là khổ, cố níu vào thủ uẩn là khổ tức là chấp thủ ngũ uẩn là khổ. Thế thì thực hành Ngũ uẩn trong thực tế là gì? Đó là từ sự hiểu biết được Ngũ uẩn là gánh nặng, mà cái gánh nặng đó chính là sự bám giữ các thủ uẩn: cái Ta, cái của Ta, là sự chấp thủ uẩn mà gây ra đau khổ cho con người nên phải tìm diệt cái nguyên nhân gây ra nỗi khổ đó.

Ta biết nguyên nhân gây ra tất cả những nỗi khổ đau của cuộc sống là do vô minh, là đều do ý thức, tư tưởng mà ra. Vì thế đức Phật dạy chúng sinh phải biết tu tập để chuyển  đổi tất cả ý thức tư tưởng trở thành trí tuệ, mà có trí tuệ thì mới có thể chấm dứt khổ đau đạt đến thân tâm an lạc, đến giải thoát, Niết bàn. Vì thế tất cả mọi phiền não đau khổ trên thế gian này đều phát nguồn từ ý thức, tư tưởng mà ra. Mà khi đã tu tập để tư tưởng trở thành trí tuệ, đã quán chiếu được để thấy cuộc đời là vô thường, vô ngã, tịch tịnh thì đâu đâu cũng thanh tịnh, lúc nào cũng an vui tự tại. Tu tuệ là phương tiện cứu cánh để chứng đắc. Một khi trí tuệ đã thấu suốt thì biết đời là vô thường, là khổ nhưng không trốn tránh cái khổ mà dùng trí tuệ để tận diệt chúng để có an vui tự tại.