Category Archives: Đọc sách

[CNS 16] TÌM ĐƯỜNG TUỔI 20S

   Mình đọc cuốn sách này trước hết là sự tò mò với cái tên “Tìm đường tuổi 20s” (“20s” hay “twentysomething” chỉ những người trong độ tuổi từ 20 đến 29). Một cô gái 24 tuổi như mình muốn biết xem một người Chị thế hệ 20s muốn chia sẻ điều gì qua cuốn sách này. Sách viết theo lối tự thuật, ngôn ngữ dung dị, không hoa mỹ. Đọc cuốn sách mình tìm thấy sự đồng điệu với những trải nghiệm của cá nhân Chị chia sẻ. Một vài chia sẻ của Chị mình muốn ghi lại để học hỏi.
  Khi gặp vấn đề gì đó thông thường chúng ta rơi vào sự rối rắm, nhùng nhằng, không sáng rõ trong tư duy do bị cảm xúc tiêu cực phủ lên, việc bạn cần làm là viết ra tất cả suy nghĩ của mình, sau đó định hình lại vấn đề mình gặp phải, tập trung đi tìm giải pháp, hướng đến hành động giải quyết vấn đề đó. Khi rơi vào bế tắc, chán nản với cuộc sống hiện tại, hãy đến một môi trường mới, gặp gỡ những con người có góc nhìn mới, ta sẽ thấy cuộc sống thật thú vị, còn nhiều điều chưa biết, và rất nhiều điều để khám phá.
  Ai cũng có những nhược điểm và ưu điểm, nhược điểm đôi khi chỉ là vỏ bọc nguỵ trang của ưu điểm. Chỉ khi ta biết chấp nhận, yêu thương bản thân, nhìn sâu hơn vào cái tưởng như nhược điểm ấy, chúng ta mới khám phá được ưu điểm trong mình, mới hiểu được giá trị thực tế của bản thân, và nhận ra những góc sáng tuyệt đẹp mình có. Sự tự tin phải đến từ quá trình xây dựng tình yêu với bản thân, chấp nhận bản thân, thành thật với bản thân. Càng hiểu bản thân mình bao nhiêu, bạn sẽ nhận ra được những góc khác nằm sâu trong mình. Không đánh bóng bản thân, Chị đã chia sẽ thực trước đây chị cũng là người hướng nội, khiến Chị phải đối mặt với thách thức lớn khi du học tại Mỹ, một môi trường lý tưởng cho các bạn hướng ngoại được thoải mái bộc lộ cá tính, tiếng nói cá nhân. Thay vì lẩn tránh, Chị tìm ra điểm mạnh của người hướng nội: khả năng lắng nghe, suy nghĩ thấu đáo, hướng tới chiều sâu hơn bề nổi để thích nghi, làm chủ mình trong việc học tập tại trường. Ví dụ như trong các buổi hoạt động nhóm, Chị chủ động là người ghi chép ý kiến, tận dụng thế mạnh và ý tưởng của từng người trong nhóm một cách tốt nhất thay vì cố gắng đưa tiếng nói cá nhân vào ngay từ đầu. Chị giúp mọi người trong nhóm phân tích cái hay, cái hợp lý, cũng như cái cần phải cân nhắc trong mỗi ý tưởng, kết quả là Chị được chọn là leader nhóm và có những thành tích khá ấn tượng kể từ khi bước ra khỏi vỏ ốc của chính mình trong thời gian du học. Hiểu biết đến từ việc nắm bắt và chấp nhận những thiếu sót của bản thân.
  Để duy trì động lực lâu dài, bạn cần có cả “intrinsic motivation – động lực có được từ bên trong công việc” và “extrinsic autonomous motivation – động lực đến từ nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của những việc mình làm, tầm quan trọng của những giá trị mình đang tạo ra”. Làm bất kỳ việc gì cũng vậy, không phải lúc nào hay cái gì mình làm cũng có động lực từ bên trong, sẽ có những lúc ta phải làm những việc tuy mình không thích nhưng lại cần thiết để đạt tới cột mốc xa hơn.
  Hãy rèn luyện bản thân theo mô hình A3E2: Ability (năng lực làm việc), Agility (khả năng thích ứng nhanh chóng với những việc mới dựa trên những kỹ năng đã có, khả năng học hỏi nhanh), Aspiration (có hoài bão, mong muốn phát triển bản thân), Emotional intelligence (khả năng nắm bắt cảm xúc của bản thân và của người khác để biết hành xử phù hợp trong các hoàn cảnh khác nhau, Engagement (sự gắn bó, cam kết lâu dài, nhiệt huyết với công việc, tổ chức.

Trên con đường thực hiện mục tiêu của mỗi cá nhân, sẽ có lúc bạn cảm thấy thực sự mệt mỏi, mung lung về tương lai và muốn buông bỏ, tuy nhiên hãy nhìn vào đích đến của mình để có thêm động lực, có thêm năng lượng trên con đường dài đầy thách thức và thực hiện nó với tất cả sự cam kết của bản thân mình. Mình rất thích một câu nói “Today, the challenge is great difficulties; In a lifetime, the challenge is a small difficulty; Eternally, the challenge is nothing” (Xét trong ngày hôm nay thử thách là một khó khăn lớn; xét trong cả cuộc đời, thử thách là khó khăn nhỏ; xét trong vĩnh hằng, một thử thách chẳng là gì cả). Vậy thì khi gặp thử thách nào đó hãy xét nó vào trong cả cuộc đời nhỉ, sẽ chỉ là một hạt cát rất nhỏ thôi 😉

[CNS 14] CON KHÔNG NGỐC, CON CHỈ THÔNG MINH THEO MỘT CÁCH KHÁC

“Con không ngốc, con chỉ thông minh theo một cách khác” tường thuật lại quá trình trưởng thành của tác giả – diễn giả Lư Tô Vỹ: năm 8 tuổi, ông mắc bệnh viêm não Nhật Bản, hậu quả là bị bại não. Căn bệnh đã khiến cho chỉ số IQ của ông chỉ có 70, lớp 5 mới học chữ, trải qua 7 năm ôn luyện mới thi đỗ Đại học nhưng cuối cùng ông đạt được thành tích đáng nể phục trong học tập và sự nghiệp: tốt nghiệp vươn lên trong top 3 sinh viên có thành tích học tập xuất sắc của Học viện Cảnh sát, hiện là tác giả của hơn 50 đầu sách về giáo dục con cái tại Đài Loan, sở hữu 500 phát minh, là diễn giả của 5000 buổi diễn giảng, chuyên gia nổi tiếng tại Đài Loan trong lĩnh vực khai thác và phát triển năng lực tiềm ẩn. Mình đã thực sự rất xúc động khi đọc được từng thước phim quay chậm về cuộc đời của tác giả. Ẩn sau câu chuyện, mình cảm nhận sâu sắc về tình cảm thiêng liêng cao quý: tình cha mẹ, tình anh chị em trong gia đình và mình được truyền thêm động lực rất lớn trong quá trình tự rèn luyện, học tập phát triển tiềm năng của bản thân. “Con không ngốc, con chỉ thông minh theo một cách khác” khẳng định một chân lý rằng mỗi người đều có khả năng tiềm ẩn, không phải bạn không có đủ tiềm lực để đạt được mục tiêu, trở thành con người bạn mong muốn mà chỉ bởi vì bạn chưa dành thời gian để hiểu về bản thân, không đủ kỷ luật với bản thân, quyết tâm của bản thân chưa đủ lớn. Qua cuốn sách, tác giả cũng gợi mở cho mỗi người đọc hãy “phát hiện chính mình”. Hiểu được chính mình thực sự rất quan trọng bởi “Hiểu được chính mình” sẽ giúp bạn tìm lại được niềm tin và giá trị của chính mình ngay từ những cảm xúc thất bại trong cuộc sống, công việc. Bạn không buộc phải đeo mặt nạ để sống, bạn có thể thực sự tận hưởng sự tĩnh lặng, nhẹ nhàng, tự tại của cuộc sống mình muốn, tất cả đều nằm ở việc bạn buộc phải biết được chính mình. Nếu bạn không hiểu được khả năng của bản thân, mục tiêu của bản thân, mong muốn của bản thân thì làm sao bạn biết nên làm gì đúng trong lúc này, ngày mai, ngày sau??. Thành công đến từ sự nhìn nhận rõ ràng của chúng ta, chứ không đến từ nỗ lực ép bản thân phải đạt được ❤ 🙂

[CNS 13] TƯ DUY TÍCH CỰC – BẠN CHÍNH LÀ NHỮNG GÌ BẠN NGHĨ

Theo thuyết Ngũ uẩn trong Phật giáo: Bản ngã là nguồn gốc của vô minh. Do đó, suy nghĩ chi phối toàn bộ đến hành động của chúng ta trong cuộc sống. Suy nghĩ tích cực là một kỹ năng thực sự cần thiết cho mọi người. Bắt đầu một năm mới, mình đọc và viết lại một vài lời khuyên từ cuốn sách này và sẽ luôn review lại hàng ngày để rèn luyện suy nghĩ tích cực: 

1. Why?
– Xét về mặt sinh học, tư duy tích cực sẽ hoạt hóa các chức năng sinh lý khác như hệ nội tiết, hệ miễn dịch và nhất là hoạt hóa các chất dẫn truyền thần kinh. Đến lượt mình, các tác nhân nội tiết, thần kinh nói trên lại hoạt hóa toàn bộ các chức năng khác, kể cả hoạt động cơ bắp và hoạt động thần kinh trung ương trong đó có hoạt động trí não. Nhờ vậy, con người trở nên vui vẻ hơn, sảng khoái hơn, yêu đời, tự tin, sáng suốt và dễ dàng thực hiện những hành vi tích cực, có lợi cho bản thân và cho mọi người. Trái lại, tư duy tiêu cực chỉ làm tiêu hao năng lượng, gây ức chế các chức năng sinh lý khác như suy giảm các chất nội tiết, suy giảm chức năng của hệ miễn dịch (dễ bị lây bệnh/ung thư), các chất dẫn truyền bị ách tắc, dẫn tới làm tê liệt đời sống cảm xúc, trí tuệ, vận động, có thể dẫn đến kết cục bi thảm nhất là tự hủy hoại bản thân (tự sát) và làm tổn hại người khác (cuồng sát).

– Về mặt tâm lý, tư duy tích cực là lòng tự tin giúp cá nhân khám phá ra tất cả các tiềm năng vô tận vốn ẩn chứa trong sâu thẳm mỗi con người. Nhờ năng lượng được hoạt hóa, được đánh thức, vô vàn tài năng được bộc lộ và có thể tạo ra vô vàn của cải cho xã hội. Những tài năng đó gọi là nội lực (inner resources) là điều kiện cốt lõi giúp con người tự vượt lên chính mình, vượt qua mọi thử thách, tự khẳng định và trở thành nhân cách tự chủ, độc lập.
– Về mặt xã hội, tư duy tích cực là nguồn sáng tạo trong mỗi con người, là khả năng sáng tạo của mọi cá nhân, không có sáng tạo của mọi cá nhân, xã hội sẽ không tiến hóa. Trong một cộng đồng xã hội, trong phạm vi hẹp như gia đình, thành viên có tư duy tích cực sẽ tạo ra một môi trường lành mạnh, một xã hội đầy tính nhân văn.

2. What?
– Tư duy tích cực là khả năng suy nghĩ theo cách mà qua đó, ta có thể biến chuyển những tình huống khó khăn thành những thuận lợi. Hiện nay đang tồn tại kiểu tư duy “Thắng – thua”: trong bất kỳ tình huống nào, hoặc là ta thắng hoặc là ta thua, trong bất kỳ mối quan hệ nào cũng có kẻ thắng, người thua. Kẻ thắng thì hân hoan, người thua thì cay đắng. Bằng cách tư duy tích cực, chúng ta hãy tư duy theo cách “cùng thắng” điều này có vẻ hơi lý tưởng hóa nhưng bạn nghĩ xem nhé: nếu bạn bị mất mát một cái gì đó thì có thể bạn sẽ nảy sinh lòng thù hận => trả thù, nay thắng, ngày mai thua, liệu rằng “hạnh phúc” trong tâm của bạn có bền vững? Tư duy tích cực không phải là chối bỏ sự tiêu cực hay chỉ chấp nhận những mặt tốt đẹp thuận lợi, dễ chịu của cuộc sống. Tư duy tích cực dựa trên sự quan sát khách quan về thực tại, nhưng không ở mãi trong thực tại đó, bạn đón nhận và biến nó thành điều tốt, có lợi, hữu ích, kiến tạo và chuyển hóa những khó khăn, thử thách trong hiện tại thành những cơ hội hay ít nhất bạn cũng hiểu ra rằng những khó khăn, mang đến cho bạn những kinh nghiệm, rèn luyện cho bạn có những phẩm chất hữu ích trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống làm bạn mạnh mẽ hơn, cuối cùng là hạnh phúc hơn.
– Suy nghĩ chúng ta cần hướng đến là suy nghĩ tích cực (suy nghĩ với thái độ lạc quan, chấp nhận và khoan dung), suy nghĩ cần thiết (suy nghĩ để lập kế hoạch cho ngày làm việc của mình), suy nghĩ hướng thượng (suy nghĩ dựa trên nền tảng các giá trị, các phẩm chất của cá nhân hay của nhân loại như sự bình an, lòng nhân ái, sự hợp tác… Đó là những suy nghĩ có liên quan đến việc nhận thức ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống, hay những sự việc diễn ra xung quanh ta. Suy nghĩ hướng thượng giúp ta có một tầm nhìn xa, không mang tính vị kỷ mà hướng đến lợi ích của tất cả mọi người). Suy nghĩ cần tránh và xóa bỏ là suy nghĩ tiêu cực (suy nghĩ mang thái độ giận dữ, hẹp hòi, dằn vặt bản thân hoặc chỉ trích người khác), suy nghĩ vô ích (suy nghĩ về quá khứ, suy nghĩ về những điều vượt ngoài tầm kiểm soát của bản thân: giá như…, tại sao thế…. bao gồm cả sự nghi ngờ, hối tiếc, ảo tưởng, lo lắng về những việc nhỏ nhặt).

– Suy nghĩ và các mối quan hệ của chúng ta:
So do suy nghi va tac dong

Thực tế chung khá phổ biên ngày nay là tâm trí chúng ta thường được định hình bởi ngoại cảnh và cách đối xử của người khác “Tôi cảm thấy vui khi người khác đối xử tốt với tôi và cảm thấy khó chịu khi họ có thái độ không tốt”, bộc lộ qua việc chúng ta có cảm giác khó chịu với người khác. Dường như niềm vui, hạnh phúc của chúng ta bị quyết định bởi điều kiện và môi trường bên ngoài, bị phụ thuộc vào hoàn cảnh. Chúng ta không thể kiểm soát được điều kiện ngoại cảnh như cách cư xử của mọi người với chúng ta, thời tiết, biến đổi kinh tế,….Do đó chúng ta cần tập trung vào việc “định nghĩa” bản thân bằng những phẩm chất tích cực bên trong, chúng ta sẽ ổn định hơn và ít bị ảnh hưởng bởi sự “thăng trầm” của ngoại cảnh cũng như của những người xung quanh. Nếu giá trị của chúng ta phụ thuộc vào những gì đang có thì điều đó sẽ tạo nên nỗi lo sợ, mất mát hoặc chúng ta sẽ cảm thấy không hạnh phúc khi ai đó có nhiều hơn mình, chúng ta sẽ nhìn người khác bằng cái nhìn giới hạn. Nếu chúng ta biết nhận dạng bản thân qua cái tôi cùng với những phẩm chất tích cực bên trong, chúng ta có thể duy trì được sự ổn định của nội tại, ngay cả ngoại cảnh bấp bênh, chúng ta sẽ nhìn người khác bằng cái nhìn thấu hiểu hơn, tầm nhìn rộng hơn và tích cực hơn. Điều này cũng tạo cho chúng ta lòng tự trọng sâu sắc và bền vững, thậm chí khi bị người khác chỉ trích hay bị hoàn cảnh thử thách. Tác giả của cuốn sách “Bảy thói quen của người thành đạt” đã nói về hai vòng tròn trong cuộc đời của chúng ta: Vòng tròn Ảnh hưởng bao gồm các giá trị, thái độ, suy nghĩ… Vòng tròn Quan tâm bao gồm những điều chúng ta không thể kiểm soát được như: thời tiết, con người và tình hình kinh tế…Khi chúng ta cố kiểm soát vòng tròn Quan tâm thì sẽ tạo áp lực lên vòng tròn Ảnh hưởng, chúng ta sẽ bị tiêu hao nhiều năng lượng tích cực khiến chúng ta không thể làm việc hiệu quả. Thay vào đó chúng ta nên tập trung vào vòng tròn Ảnh hưởng bằng cách tăng cường các giá trị của bản thân, tạo ra thái độ và suy nghĩ tích cực, điều này tạo ra các sóng năng lượng tích cực, những sóng này lại tác động lên vòng tròn Quan tâm, cho chúng ta nhiều nội lực để đối phó với những tình huống khó khăn, thử thách.
Nếu chúng ta thấu hiểu rằng cuộc sống và công việc là nhằm mang lại lợi ích cho bản thân mình và cho người khác, chúng ta sẽ có hứng thú, ham học hỏi trong việc nhìn nhận những gì diễn ra xung quanh, tạo ra một sự khác biệt. Mọi người đánh giá cao những cống hiến của chúng ta, hoan nghênh sự có mặt của chúng ta và cuối cùng sẽ hợp tác với chúng ta để hoàn thành mục tiêu cao nhất của cuộc sống.

Niềm tin => Nhận thức => Tầm nhìn => Thái độ => Động cơ/Mục đích => Hành động => Thói quen => Tính cách => Số phận.

3. How?

Các công cụ trợ giúp để duy trì trạng thái tích cực:
– Hình dung: Sử dụng hình dung tích cực để tạo ra một hình ảnh mạnh mẽ rằng mình sẽ vượt qua, sẽ thành công trong bất kỳ tình huống khó khăn nào.

– Biến tiếng nói bên trong thành bạn của bạn: Xây dựng một tiếng nói bên trong sẽ khuyến khích và tạo dựng sự tự tin cho chúng ta. Bước đầu tiên là lắng nghe. Nếu nhận ra giọng nói ấy đang chỉ trích hay làm nản chí thì chúng ta quyết tâm chuyển nó thành tiếng nói hỗ trợ, khuyến khích. Sự quyết tâm rất quan trọng vì chúng ta rất hay tạo được vài suy nghĩ truyền sức mạnh cho bản thân nhưng rồi sau đó lại không quan tâm để tiếp tục điều đó.
– Xem những khó khăn là bài học: Học hỏi từ những khó khăn, không để thất bại che phủ tương lai và bào mòn lòng tự tin của chúng ta.
– Lựa chọn những lời khẳng định:
+ Thứ nhất, luôn thể hiện câu nói ở hiện tại “Tôi làm…” thay vì “Tôi sẽ làm….”
+ Thứ hai, nói những câu này ở ngôi thứ nhất: “Tôi là…”, “Tôi có thể…”.
+ Thứ ba, bảo đảm rằng những lời khẳng định này thể hiện theo cách xác định, chứ không theo cách phủ định (Thay vì tôi không bị stress bằng tôi tự do với stress).
Bảy bước chuyển phản ứng tiêu cực thành tích cực:
– Bước 1: Chú ý tới những điều bạn nói và cách bạn phản ứng với những người khác.

– Bước 2: Nếu bạn có đang có những ý nghĩ chỉ trích và phản ứng lại những người khác, hãy thay thế bằng những phản ứng hữu ích và tích cực.
– Bước 3: Bất cứ khi nào có những ý nghĩa tiêu cực về chính mình, về người khác hay về hoàn cảnh, hãy tập trung vào những khía cạnh tốt và tích cực của mình, của người khác và của hoàn cảnh hiện tại.
– Bước 4: Khi đối mặt với những thử thách, hãy chấp nhận những gì bạn không thể thay đổi và tập trung tìm kiếm những giải pháp có lợi và hiệu quả.
– Bước 5: Ghi lại những điểm tích cực của mọi người xung quanh và tập sống tốt như vậy.
– Bước 6: Khẳng định những sức mạnh, khả năng cùng mục tiêu của cuộc đời bạn là thực tế, không quan tâm tới những gì có thể khiến bạn nản lòng.
– Bước 7: Ghi nhớ rằng dù có bất kỳ chuyện gì xảy ra, bạn cũng hoàn toàn tự do lựa chọn thái độ của mình và thái độ này sẽ quyết định cách bạn xử lý tình huống như thế nào.
Xây dựng một cuộc sống tích cực:
– Học hỏi: Để phát triển tinh thần, chúng ta cần đến sự hiểu biết. Sự hiểu biết sâu sắc đặt chúng ta vào khuôn khổ đúng đắn của tâm trí, dẫn dắt ta đến với thông suốt. Trong học tập và làm việc có sự tiến bộ và trong sự tiến bộ có niềm vui. Học tập và thử nghiệm giúp chúng ta tìm thấy niềm vui trong cuộc sống.

– Kiên nhẫn: Sẵn sàng làm việc để đạt kết quả như mong muốn. Điều tốt đẹp, tích cực không thể có được ngay tức thì hay tự động mà có, chúng đòi hỏi phải có thời gian và phải trải qua quá trình tiến triển theo từng giai đoạn. Có những lúc chúng ta phải hành động nhưng có những lúc ta phải chờ đợi.
– Trung thực: Chúng ta không buộc phải hoàn hảo nhưng cần trung thực.Tính trung thực khiến chúng ta có cái nhìn thực tế trước những gì mình có thể làm được và những gì mình không thể làm được. Đừng bao giờ gây áp lực cho mình khi bước lên chiếc thang đó nếu chúng ta chưa chuẩn bị sẵn sàng, nhưng hãy luôn nhớ rằng còn có những nấc thang cao hơn so với những nấc thang mà chúng ta đang đứng. Chuẩn bị sẵn sàng vào lúc leo thang. Đó là sự trung thực. Cố gắng phấn đấu trung thực với bản thân nghĩa là giữ cho chúng ta trong tư thế sẵn sàng đón nhận những bài học từ cuộc sống, dù có làm được nhiều đến đâu, biết hoặc hiểu nhiều đến đâu, chúng ta vẫn luôn có nhiều điều để học hỏi.
– Tha thứ: Tha thứ là biết bỏ qua quá khứ, không lặp đi lặp lại một lỗi lầm. Tha thứ cho phép chúng ta sống ở hiện tại.
– Khiêm nhường mà không quỵ lụy: Khiêm nhường cho chúng ta thấy rằng chúng ta không phải là tất cả, cũng không phải là vô nghĩa, luôn ý thức được mở rộng tâm hồn để học hỏi. Ta nhận ra mọi sự vật đều có quyền tồn tại trong hòa bình, tự do và hạnh phúc.
– Tránh thói quen đổ lỗi.
– Quân bình: Chúng ta cần vững tâm để đối mặt với nhiều tình huống khó khăn nhưng đừng nên quá cứng nhắc đến độ không quan tâm đến sự đau khổ của người khác. Chúng ta nên biết hài lòng và trân trọng những gì chúng ta có được trong đời nhưng đừng bao giờ quá hài lòng đến độ không phấn đấu để tiến bộ. Chúng ta nên tự nhiên nhưng không bao giờ được bốc đồng. Chúng ta có nguyên tắc và thực hiện theo nguyên tắc nhưng không giáo điều. Nguyên tắc là cần thiết nhưng ta cần giữ sự nhạy cảm của mình với nhu cầu của người khác. Khi có sự hiểu biết sâu sắc, chúng ta sẽ đạt đến sự quân bình.

Rèn luyện được suy nghĩ tích cực là cả một quá trình, để có được điều này đồng nghĩa với việc chúng ta cần có sự hiểu biết, điều này chỉ có được khi chúng ta không ngừng học hỏi 🙂

[CNS 12] 9 BÍ QUYẾT VẬN DỤNG LUẬT HẤP DẪN

Có một tiền đề rằng : “Những suy nghĩ của bạn đầy quyền lực và có một trường những khả năng vô tận đang chờ bạn khám phá. Trường thế giống như dòng điện nên bạn phải “cắm phích” để nó hoạt động. Nghĩa là bạn phải dồn tâm trí vào những điều mình mong muốn, đó là yếu tố phát sinh năng lượng”. Bạn nghĩ thế nào về tiền đề này? Tiền đề này được tác giả Pam Grout chứng minh qua một số nguyên tắc dưới đây:

1. Nguyên tắc volkswagen jetta (tên nguyên tắc dựa theo thương hiệu xe hơi nổi tiếng): Bạn tác động đến Trường và kết quả thu được tùy theo niềm tin và mong đợi của bạn

Nguyên tắc này chỉ ra rằng: Khi bạn quan tâm đến một dòng xe nào đó cũng tương tự như việc bạn dành trọn tâm trí cho những điều mà chúng ta không muốn thì nó sẽ luôn xuất hiện. Nếu xét theo góc độ Vật lý học, luôn có một Trường tiềm năng (Trường điểm 0) – nơi mà mọi khả năng đều tồn tại, ví như bạn có thể trở thành diễn viên hoặc Thủ tướng hoặc người vô gia cư… Bạn sẽ thấy nó khi bạn tin vào nó. Có một thí nghiệm như sau: Năm 1961, khi nhà nhân chủng học Colin Turnbull tìm hiểu về tộc người lùn sống ở Châu Phi – Pigmy, ông đã đưa họ ra khỏi khu rừng họ sinh sống. Vì chưa bao giờ được nhìn thấy đồng bằng rộng lớn mênh mông nên cảm giác về không gian rộng lớn của họ cũng biến mất. Turnbull chỉ cho họ thấy một đàn bò ở đằng xa nhưng họ chỉ khăng khăng rằng “Chắc đó chỉ là một đàn kiến thôi” do cảm giác về bề rộng bị mai một. Nhận thức của chúng ta thường bị ảnh hưởng bởi những gì chúng ta quen thấy, tuy hàng ngày bạn tiếp cận các nguồn thông tin của thế giới nhưng lại có xu hướng nhào nặn các thông tin đó cho đến khi mọi thứ khớp với khuôn khổ hạn hẹp của những điều mình tin tưởng.

=> Bạn nghĩ gì, bạn sẽ tạo ra thứ đó. Không có quyền lực nào trên trái đất có thể cản trở bạn khỏi nguồn năng lượng này ngoại trừ nhận thức của chính bạn.

2. Nguyên tắc Alby einstein: Bạn cũng là một trường năng lượng

Nguyên tắc này xuất phát từ công thức của Einstein: E = mc2, khối lượng và năng lượng về cơ bản là hai hình thức của một sự vật. Năng lượng là vật chất đã được giải phóng, còn vật chất là năng lượng đang chờ để xuất hiện. Năng lượng là thứ tinh vân (hỗn hợp những thứ mà ta không thể thấy bằng mắt thường), nghĩa là bạn không thể thấy nó, tóm lấy nó nhưng bạn có thể tác động đến quá trình chuyển động đó trong bạn. Những gì bạn cảm thấy, suy nghĩ, tin tưởng, đánh giá và cách bạn sống ảnh hưởng rất lớn đến nguồn năng lượng chuyển động trong con người của bạn. Suy nghĩ và cảm giác của bạn tạo ra những sóng năng lượng. Ví dụ khi bạn thấy vui vẻ, hứng thú, những cảm giác đó phát ra dao động cao tần có thể hấp dẫn những thứ khác vui vẻ, hứng thú theo bạn. Tất cả những thứ có cùng tần số cao số hòa cùng trường năng lượng của bạn. Ngược lại, khi bạn cảm thấy sợ hãi hoặc mang mặc cảm tội lỗi, bạn sẽ gửi đi dao động tần số thấp và thu hút những năng lượng tiêu cực vào bạn.
=> Bạn là năng lượng, bạn có thể điều khiển năng lượng của mình.

3. Nguyên tắc Abracadabra: Khi bạn tập trung vào điều gì thì điều đó sẽ mở ra với bạn

Nếu biết mình muốn gì, bạn sẽ đạt được cái đó, bạn càng đầu tư nhiều năng lượng và hứng thú vào điều đó thì bạn càng nhanh đạt được điều đó. Tuy nhiên suy nghĩ của chúng ta nằm rải rác ở mọi nơi. Cùng một lúc chúng ta tưởng tượng ra những kết quả tiêu cực vừa thầm suy nghĩ tiêu cực, ví dụ như khi bạn nung nấu ý định “tư duy làm giàu” nhưng bạn lại mất cả đến 500 suy nghĩ lo lắng về khoản tiền nợ mua xe đã quá hạn thanh toán. Ý định cũng giống như quả bóng tennis, nó sẽ quay lại theo cách mà bạn ném nó đi, giống như Định luật về chuyển động số 3 nổi tiếng của Newton, lực không xuất hiện riêng lẻ mà xuất hiện theo từng cặp động lực – phản lực, lực chỉ xuất hiện khi có sự tương tác giữa hai hay nhiều vật với nhau. Bạn đưa ra cái gì, “cầu nguyện” cho cái gì bạn sẽ nhận được cái tương tự. Bạn nói dối người khác, bạn sẽ nhận được những lời nói dối, bạn phê phán người khác bạn cũng nhận được những lời phê phán, bạn cho đi yêu thương, bạn sẽ nhận được vô vàn tình yêu thương.

4. Nguyên tắc siêu anh hùng: Tư duy và nhận thức của bạn có tác động đến vật chất

Có 1 thí nghiệm như sau: Tiến sĩ Masaru Emoto người Nhật Bản đã dành 15 năm để nghiên cứu tác động của lời nói, tư duy và tình cảm tới vật chất. Ông chọn nước để xem nó phản ứng thế nào với các từ ngữ, âm nhạc, lời cầu nguyện và đọc kinh. Với hơn 10.000 mẫu nước, Emoto và các trợ lý của mình đã nói chuyện, chơi nhạc và hướng dẫn các tu sĩ đọc lời nguyện cầu bên cạnh nước. Khi các nhà khoa học “đối xử tốt” với nước bằng cách nói những từ ngữ “tôi yêu bạn” và “cảm ơn” thì kết quả tinh thể thu được sẽ trong hơn và và hình dạng đẹp hơn nhưng khi Emoto và các trợ lý của mình nói chuyện một cách tiêu cực với nước như hò hét hoặc đưa ra những bình luận ác ý như “tôi ghét bạn” hay “đồ ngốc” thì tinh thể sẽ đục và có các lỗ rất xấu. Một khi tâm trí của chúng ta cho rằng không thể làm được việc gì đó thì nó sẽ thông báo cho bộ não và não bộ sẽ truyền tin cho các cơ bắp, tạo nên sự uể oải,chán nản. Như vậy chính bạn mới là người điều khiển vật chất.

5. Nguyên tắc chú chó đốm: Bạn kết nối với mọi người và mọi vật trong vũ trụ này

Bạn có mối liên hệ với mọi người và mọi vật thông qua một Trường trí não và “năng lượng vô hình”. Mọi người đều tin rằng chúng ta chỉ có thể thay đổi những thứ mà chúng ta chạm vào được tuy nhiên không phải vậy, một vật không ở gần vật khác vẫn có thể gây ảnh hưởng đến vật đó. Nhà khí tượng học Edward Lorenz chỉ ra trong thí nghiệm “Hiệu ứng cánh bướm”: hoạt động nhỏ như một cánh bướm vỗ ở Brazil cũng có thể gây ra một cơn lốc xoáy ở Texas. Rộng hơn ở thí nghiệm này bạn có thể dùng nó để thu hút tình yêu thương đến với bạn, dùng nó làm cho thế giới tốt đẹp hơn. Khi bạn có những suy nghĩ tốt đẹp về ai đó, nó có thể tác động đến năng lượng của họ. Ngược lại, khi bạn phán xét ai đó, thậm chí chỉ nghĩ trong đầu bạn thôi cũng có thể ảnh hưởng đến năng lượng của họ và làm giảm đi chất lượng tương tác của bạn. Khi bạn gặp ai đó, nên nhớ rằng đó là một cái duyên. Khi bạn nhìn vào ai đó, bạn sẽ nhìn thấy chính bản thân mình. Khi bạn cư xử với ai đó, bạn đang cư xử với chính bản thân bạn.

  Nhìn lại thông điệp tác giả muốn truyền tải từ cuốn sách này thì thấy rằng: để phát huy được “trường năng lượng” trong mỗi người, trước hết bạn phải tin vào khả năng tiềm ẩn vô tận của bản thân. Thứ hai khi đã đặt ra mục tiêu, để thực hiện thành công thì luôn lặp lại suy nghĩ tích cực về kết quả tương lai, kiên trì thực hiện nó. Thứ ba, bạn có mối liên hệ với mọi người và mọi vật thông qua một Trường trí não và “năng lượng vô hình”, điều này có ý nghĩa quan trọng trong giao tiếp, gặp ai đó, nên nhớ rằng đó là một cái duyên. Khi bạn nhìn vào ai đó, bạn sẽ nhìn thấy chính bản thân mình. Khi bạn cư xử với ai đó, bạn đang cư xử với chính bản thân bạn. Thứ tư, Niềm tin rằng “không có đủ” làm cho nhiều người làm những công việc mình không thích, duy trì những mối quan hệ không thoải mái. Điều này sẽ làm cho bạn không đủ bình tĩnh để phát triển những nguồn lực hiện có. Điều cốt yếu là chúng ta không có khái niệm gì về những giới hạn mà chúng ta đặt ra cho nhận thức của mình. Thay vì việc bạn hao tổn trí lực với suy nghĩ “không có đủ” thì hãy chuyển sang “có đủ” để có thể nhìn nhận được tiềm năng ẩn chứa của bản thân, khai thác tối đa các nguồn lực sẵn có, tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống 😉

[CNS 11] HẠNH PHÚC TẠI TÂM – OSHO

Một cuốn sách mình đã đọc và suy ngẫm rất lâu. Đọc cuốn sách này mình thấy rằng, Hạnh phúc tại tâm “Happiness comes from within” là:

1. Bạn hướng tới trạng thái “An lạc” trong tâm hồn. An lạc là gì? Nó khác gì với “khoái lạc”, “hạnh phúc tạm thời”, “niềm vui”?
Khoái lạc: Thuộc về tâm sinh lý, là một cái gì đó hời hợt nhất của đời sống con người, nó chỉ là một sự kích thích. Đó có thể là tình dục hoặc cảm giác khác; nó có thể là nỗi ám ảnh về thức ăn (ngoại trừ nhu cầu tối thiểu cho cơ thể được duy trì). Khoái cảm là lệ thuộc vào một cái gì đó ngoài bản thân mình. Ví dụ với một người say mê tiền bạc, càng nhiều tiền càng thích thú, càng đau khổ vì anh ta càng có nhiều tiền bao nhiêu, anh ta càng ham muốn, lo sợ mất bấy nhiêu. Yêu người phụ nữ hoặc đàn ông nếu tình yêu khiến người ta vui thú và khi đó không còn yêu nữa, ta cảm thấy đau đớn, ta đã tạo ra kẻ nô lệ trong ta. Khoái lạc không phải và không thể là mục đích của cuộc sống.
Hạnh phúc tạm thời: Khoái lạc thiên về sinh lý, hạnh phúc mang tính tâm lý. Hạnh phúc là khi bạn cảm nhận một cái gì tốt lành hơn thực tại một chút, tinh tế hơn, cao đẹp hơn.
Niềm vui: Niềm vui là trạng thái thuộc về tinh thần. Niềm vui có ở trong ta, không phải từ bên ngoài hoặc người khác. Nó không xuất hiện vì bị kích động.
An lạc: Bao gồm cả niềm vui. Khoái lạc rất ngắn ngủi, nó thuộc về thời gian, chỉ là “một khoảnh khắc sống”. An lạc mới là phi thời gian, vô tận. Khoái lạc của bạn chỉ có thể bị người khác lấy đi mất. An lạc biến bạn thành người chủ của tâm hồn mình, cuộc đời mình. Không phải chúng ta sáng tạo ra niềm an lạc mà chính chúng ta khám phá lại nó.

2. Gạt bỏ “cái tôi – bản ngã” của bạn
Cái tôi thuần túy không thể mang bất kì điều gì đặc biệt vào thế giới. Điều đặc biệt chỉ đến khi không còn cái tôi nữa “đừng nghĩ về kết quả. Hãy xem vạn vật hiện hữu như thông điệp tuyệt diệu của cái hoàn mỹ giá trị và sự thật. Đừng nghĩ về kết quả. Chỉ hành động bằng tất cả sức lực và ý chí. Đừng cố trở thành, hãy để năng lượng sáng tạo con trôi chảy”. Một nền giáo dục đích thực không dạy cho con người tranh đấu, giành giật, nó dạy cho người ta cách sống hòa hợp, sáng tạo, nó mở ra cho con người lòng yêu thương, niềm an lạc tự tại và không bao giờ vướng bận so sánh bản thân mình với người khác.

3. Hiểu được bản chất của hạnh phúc, tồn tại hai mặt của cuộc sống

– Hạnh phúc nằm ở chính những nơi chúng ta đang sống. Chúng ta ở đâu, hạnh phúc xuất hiện ở đó. Hiểu được chính mình sẽ mang tới hạnh phúc thực sự. Ánh sáng giác ngộ không phải là thoát khỏi nỗi đau, hiểu biết được những cơn giận, hiểu biết được những nỗi khổ tâm – hiểu chứ không che giấu, ngụy biện – hiểu sâu trong bản chất vấn đề “tại sao tôi lại đau khổ, tại sao tôi lại lo âu đến thế, giận dữ đến thế? Cái gì đã tạo ra tất cả những cảm giác đó?”. Thấu hiểu mọi cảm xúc tiêu cực của chính mình và làm tiêu tan chúng, đó là giác ngộ.
– Cuộc sống này cũng như 2 mặt của một đồng xu, bao giờ cũng tồn tại hạnh phúc và bất hạnh. Một khi hiểu rõ hạnh phúc chỉ là bề ngoài, nỗi thống khổ mới là sâu xa, toàn bộ ý thức của bạn sẽ thay đổi. Bạn sẽ cảm thấy dễ sống hơn, những cảm xúc tiêu cực từng hành hạ bạn sẽ giảm bớt. Tình yêu cuộc sống sẽ lan tỏa trong tâm hồn bạn.

4. Hiểu được cội nguồn đau khổ
Chúng ta luôn có xu hướng nghiêm trọng hóa mọi chuyện. Hầu hết chúng ta luôn tạo cho mình những vấn đề to tát, mặc dù thực chất không phải là như thế. Vì “cái tôi” không muốn có một nỗi đau khổ bình thường, bằng cách này hay cách khác, cái tôi luôn muốn ở vị trí thứ nhất. Vậy nên nó phải cố gắng làm nghiêm trọng tất cả mọi chuyện. Khi đối diện với buồn phiền, hãy giữ mình đừng đi sâu vào nó. Hãy bình tĩnh làm một điều gì đó để giải thoát nguồn năng lượng có nguy cơ bị đóng băng vì đau khổ.

5. Bạn cần hiểu thấu đáo những nguyên tắc cơ bản nhất:
– Trừ khi bạn không có mặt trên thế giới này, còn nếu bạn đến với cuộc đời với tư tưởng muốn làm thánh nhân thì thật vô nghĩa. Đừng sống bằng cách đánh cắp hạnh phúc của người khác, đó là thánh. Đừng dẫm đạp lên hạnh phúc của người khác mà hãy giúp họ hạnh phúc, đó là thánh. Hãy tạo ra một bầu khí quyển mà nơi đó tất cả mọi người đều được dự phần vui vẻ, tốt lành.

– Tôn trọng bản thân mình, sống tự do và biết chịu trách nhiệm. Hãy trân trọng con người duy nhất trong ta. So sánh là có lỗi với chính mình. Chẳng ai có thể làm bạn đau khổ trừ khi bạn chọn cách sống đau khổ. Vì bạn không thể đặt điều kiện “tôi chỉ vui vẻ khi cả thế giới thay đổi và tất cả mọi người đều hạnh phúc”. Đức Phật nói “vui thay ta sống trong an vui, khỏe mạnh ngay cả giữa những ưu phiền”. Như vậy hãy biến đổi bản thân mình trước. Chỉ khi nào sống yên bình mạnh khỏe, chúng ta mới có thể tạo nguồn lực nuôi dưỡng người khác.

Sau khi đọc xong cuốn sách này mình hiểu được phần nào ý nghĩa của câu “Life is easy” trong video này:

[CNS 10] THÀNH CÔNG KHÔNG CHỚP NHOÁNG – RORY VADEN

[CNS 10] Thành công không chớp nhoángTrong cuốn sách “Những kẻ xuất chúng”, tác giả Malcom Gladwell đã đưa ra quy tắc 10.000 giờ với nội dung rằng: những người ngự trên đỉnh cao không chỉ làm việc chăm chỉ mà chăm chỉ hơn rất nhiều so với người bình thường. 10.000 giờ luyện tập chính là đòi hỏi bắt buộc để đạt tới cấp độ tinh thông trong bất lỳ lĩnh vực nào. Một lần nữa ta lại bắt gặp sự tương đồng về quan điểm trong cuốn sách này. Phần lớn xã hội ngày nay đã thấm nhuần kiểu “tâm lý thang máy” – kiểu tâm lý nói với người ta rằng để có được điều mình muốn không nhất thiết phải tốn quá nhiều công sức và lúc nào cũng có lối tắt trong công việc lẫn đời sống hàng ngày, ví như những người béo phì thay vì thay đổi chế độ ăn uống và tập thể dục thì họ lại tìm đến các mẹo như “giảm cân chỉ với 4 phút mỗi ngày” hay tìm mua những máy giảm cân hiện đại. Tác giả của cuốn sách – Rory Vaden chỉ ra rằng “người thành công bao giờ cũng phải làm những điều họ không thích để đến được nơi họ muốn”. Thành công không đơn giản, thành công không chớp nhoáng. Thế nên để thành công, ta phải làm những điều không dễ mà những người tầm thường không làm. Thành công có nghĩa là ta phải rèn luyện ý chí để ép bản thân mình làm những điều mình không thích. Thành công không chớp nhoáng nói về kỉ luật của bản thân – khả năng hành động bất chấp cảm xúc, tình hình tài chính hay sức khỏe.

Tác giả đã đưa ra 7 quy tắc dùng kỉ luật bản thân để giải phóng tiềm năng:

Quy tắc 1. Hi sinh – nguyên tắc mâu thuẫn. Trong cuộc sống ta luôn phải đưa ra những quyết định “mình có nên mua món đồ đó hay để dành tiền cho những lúc khó khăn?” “Nên giành thời gian cuối tuần cho học Ngoại ngữ hay đi ăn uống với bạn bè?”…. Có hàng nghìn những tình huống tương tự  như vậy trong cuộc sống hàng ngày nhưng quá trình lựa chọn thì luôn giống nhau. Khi đưa ra quyết định, có hai loại tiêu chuẩn đối nghịch ảnh hưởng đến suy nghĩ của ta. Một phần bộ não xử lý những cảm xúc và ý muốn, khuyến khích ta lựa chọn dựa trên sở thích. Phần kia phụ trách việc phân tích, đánh giá xem cái gì là hợp lý và âm thầm nhắc nhở ta phải suy nghĩ logic. Hai xung lực này luôn mâu thuẫn, xô kéo về hai hướng ngược nhau. Xu hướng của con người là lựa chọn dựa vào những yếu tố tác động rõ rệt ngay lúc đó. Xét trong ngắn hạn, cảm xúc, rung động và ý thích hầu như luôn thắng lý trí – đó là lý do khiến người ta – phần lớn lựa chọn vào những cảm xúc và rung động. Tuy nhiên những lựa chọn dễ dàng trong ngắn hạn lại thường mâu thuẫn với những điều giúp cuộc sống suôn sẻ về lâu dài. Những người thành công luôn biết rằng lựa chọn dựa vào ý thích là lối tắt giả khiến ta phải vất vả hơn ở cuối con đường và học cũng biết rằng tạo nên một cuộc sống dễ dàng về lâu dài đòi hỏi phải chấp nhận những khó khăn trước mắt. Nhưng chân lý mà những người thành công nhận ra, trong khi rất nhiều người không hay biết là những vất vả này chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn mà thôi. Không phải tất cả những người thành công sinh ra có những tố chất đặc biệt mà chúng ta không có. Sự khác biệt nằm ở chính những tiêu chuẩn đề ra khi lựa chọn, trong khi phần lớn mọi người lựa chọn vào những thôi thúc nhất thời, người thành công sẵn sàng hi sinh vì họ quyết định dựa trên logic lâu dài.

Quy tắc 2. Cam kết – nguyên tắc tăng cường. Nguyên tắc này chỉ ra rằng khi ta đầu tư càng nhiều vào cái gì thì ta để khả năng để nó thất bại càng ít đi. Cam kết chính là việc ta lựa chọn giữa hai thái độ “tôi chưa chắc chắn lắm” và “tôi sẽ theo đến cùng” hay đặt câu hỏi “làm thế nào” thay vì câu hỏi “có nên không” . Một phần rất thú vị của trí não con người là khi ta hỏi “làm thế nào” sự sáng tạo trong ta cũng được kích hoạt. Nói một cách khác, khi ta chủ động hỏi “làm thế nào” thay vì lúc nào cũng trăn trở mãi câu hỏi “có nên không”, tiềm thức của ta được thôi thúc, ta sẽ trả lời được những câu hỏi “làm thế nào” đó và sẽ đạt được những thành tựu nhiều hơn ta nghĩ. Như triết gia Patanjali đã nói “tâm trí người vượt qua mọi giới hạn; tâm thức người mở rộng về mọi hướng….Những xung lực, bản thể và tài năng vốn ngủ quên bỗng sống dậy và người sẽ khám phá ra mình tuyệt vời hơn người vẫn tưởng rất nhiều”.

Quy tắc 3. Tập trung – nguyên tắc khuếch đại. Nguyên tắc khuếch đại Sự tập trung đơn giản nói về một trong những sự thật quan trọng của cuộc sống: Tập trung là sức mạnh. Một bước quan trọng để nâng cao kỉ luật của bản thân là nâng cao khả năng tập trung. Có 3 loại trì hoãn cơ bản. Loại đầu tiên, Trì hoãn cổ điển là chủ tâm làm đình trệ những việc ta biết mình cần phải làm. Loại thứ hai là Lảng tránh có tính sáng tạọ – một hành động vô thức lấp đấy ngày làm việc của mình bằng những việc lặt vặt (tán chuyện, lướt web…), nhưng cuối cùng chẳng đạt được thành quả gì vào cuối ngày. Loại thứ ba là Ưu tiên loãng – biến việc khẩn cấp thành những việc quan trọng, thay vì những việc cần làm  ta bị mắc vào những thứ ưu tiên sát nút nhất. Để đạt được độ tập trung cần thiết trước hết ta phải học cách tập trung từ suy nghĩ bởi chỉ khi làm chủ được trí óc ta mới có thể làm chủ được cơ thể (lời nói và hành động). Các nhà khoa học chỉ ra rằng trí não của con người hoạt động nhanh gấp bảy lần tốc độ nói. Trong tâm trí bạn luôn tồn tại “inner voice”, mình sẽ tạm ký hiệu là Mr.T. Mr.T sẽ phát cuồng lên như những khi mọi thứ không thuận buồm xuôi gió, khi có những thử thách mới. Hầu hết những người thành công trên thế giới đều đồng ý rằng cách tốt nhất để điều khiển Mr.T là học cách tự trò chuyện với bản thân một cách tích cực. Nếu bạn cứ nói to lên “tôi có thể làm được, tôi sẽ làm, tôi làm được” thì Mr.T không thể chen ngang vào những suy nghĩ tiêu cực trong đầu bạn. Sử dụng khẳng định tích cực có thể thay đổi cảm xúc trong bạn. Nếu bạn do dự, hãy dùng từ ngữ để ngay lập tức vẽ ra những viễn cảnh. Nếu bạn tự ti, hãy phát biểu mạnh dạn lên. Sau khi đã có những suy nghĩ tích cực, hãy biến những lời tuyên bố, mục tiêu và khả năng của bạn thành VAST – mô tả mục tiêu bằng những từ ngữ hấp dẫn với tất cả các giác quan: Thị giác, Thính giác, Khứu giác, Xúc giác (Visual, Auditory, Smell, Touch). Kế tiếp, tạo một Bảng tầm nhìn. Tại bảng này bạn thu thập tranh ảnh từ Internet, tạp chí hay bất kỳ nơi nào thể hiện tất cả những điều bạn hi vọng thực hiện được trong đời. Cách này nghe có vẻ “sến” nhưng nó sẽ giúp bạn nhanh chóng nhắc nhở bản thân vể những thứ mình muốn và nhìn vào đó để thúc đẩy mình. Đây không phải lần đầu mình biết đến khái niệm Bảng tầm nhìn, tác giả cuốn Sức mạnh của sự tập trung cũng đã nhắc đến về khái niệm này 🙂

Quy tắc 4. Toàn tâm toàn ý. Toàn tâm toàn ý thực hiện mục tiêu của mình. Để làm được điều này hãy nói hoặc viết ra ý tưởng, suy nghĩ của mình. Những ý tưởng khi được viết hoặc nói ra, chúng tồn tại và có khả năng định hình thế giới quanh ta.

Quy tắc 5. Lên lịch – Nguyên tắc Thu hoạch. Nguyên tắc này chỉ ra cách quản lý thời gian trong việc thực hiện mục tiêu của bạn. Tác giả định nghĩa khá hay về khái niệm “cân bằng”. Theo tác giả, “cân bằng” không có nghĩa chia thời gian bằng nhau cho các hoạt động bằng nhau. Cân bằng là dành thời gian thích hợp cho những ưu tiên quan trọng. Thay vì đặt câu hỏi “Mình có đủ thời gian làm việc này không” thì nên đặt câu hỏi “khi nào là thời điểm tốt nhất để tập trung vào hoạt động này”. Cuộc đời mỗi người có rất nhiều mùa: mùa học tập, mùa tình yêu, mùa tăng trưởng, mùa hạnh phúc, mùa khổ đau… Mỗi mùa có khi kéo dài vài năm và cũng có khi chỉ kéo dài vài phút. Ta nên hỏi “Ta đang ở trong mùa nào để hoàn thành những hoạt động đi kèm với nó và cần làm gì để thu hoạch tối đa cho vụ mùa này”. Ví dụ bạn đang ở trong mùa làm việc vất vả thì không thể đi kèm với sửa chữa nhà cửa. Lập thời gian biểu cho từng tuần theo giờ là cách tốt nhất để bạn nhanh chóng hình thành thói quen làm việc và đạt được hiệu suất cao trong công việc.

Quy tắc 6. Niềm tin – Nguyên tắc góc nhìn. Để cải thiện kỉ luật của bản thân, để thay đổi hành vi, hãy thay đổi góc nhìn. Nếu có góc nhìn đủ rộng , tất cả những thành công và thất bại của chúng ta đều thu lại đúng kích cỡ thực sự của chúng. Trong một ngày nào đó, thực sự bạn phải chịu đựng khó khăn, thấy thất bại cay đắng nếu bạn chỉ nhìn góc nhìn nhỏ hẹp của ngày hôm đó nhưng giả sử bạn vào cuộc đời của mỗi người là 1/365 của 80 năm với 80 năm là tuổi thọ trung bình của một người thì những thất bại cay đắng, khó khăn bạn chịu đựng chỉ là hạt bụi nhỏ trên thước đo của cuộc đời. Nếu ta của đủ niềm tin rằng có một tương lai đang đón đợi và ta chuẩn bị sẵn sàng cho nó thì ta cũng có một cơ sở cho một tầm nhìn thích hợp với những vấn đề và sự rắc rối của ngày hôm nay. Chiều sâu niềm tin quyết định độ rộng của góc nhìn, độ rộng của góc nhìn quyết định tầm vóc của vấn đề: Xét trong ngày hôm nay thử thách là một khó khăn lớn; xét trong cả cuộc đời, thử thách là khó khăn nhỏ; xét trong vĩnh hằng, một thử thách chẳng là gì cả. Đôi khi đưa ra những lựa chọn và quyết định sai là do bạn thiếu tầm nhìn và niềm tin. Mở rộng tầm nhìn, lùi lại một bước để nhìn toàn cảnh cuộc đời sẽ khiến ta đưa ra những quyết định khiến mình hạnh phúc dài lâu.

Quy tắc 7. Hành động. Có ba điều kìm giữ bạn ngừng hành động: sợ hãi “tôi sợ làm điều này”; đòi hỏi “tôi chẳng việc gì phải làm điều này”; cầu toàn “tôi sẽ không thử làm nếu tôi không thể làm hoàn hảo”. Để xóa bỏ những điều kìm giữ bản thân ngừng hành động, bạn nên lập hệ thống 360 độ trách nhiệm tức là bạn cần có trách nhiệm trong ít nhất 4 mối quan hệ dưới đây:

–       Người giám sát: Cấp trên hoặc người hướng dẫn rất được trọng vọng

–       Người cấp dưới: Một nhân viên hoặc người được hướng dẫn

–       Người bạn có ý nghĩa: Người bạn đời, thành viên gia đình, đồng nghiệp, bạn thân hoặc một người bạn chí cốt

–       Người ủng hộ bạn

Nhìn lại 7 quy tắc tác giả truyền đạt cũng chỉ để tóm lại 1 từ: Kỉ luật. Không phải ta không biết cách lập kế hoạch, quản lý thời gian mà là ta không quản lý được chính mình. Nếu ai trong chúng ta rèn luyện được tính kỉ luật với bản thân thì đồng nghĩa bạn đã hình thành cho mình tư duy của người thành công 🙂

 

[CNS 9] SỐNG VÀ KHÁT VỌNG – TRẦN ĐĂNG KHOA

Có những cuốn sách bạn tìm đến như người thầy dạy cho bạn kỹ năng, mở rộng cho bạn kiến thức nhân loại nhưng cũng có những cuốn sách bạn tìm đến như một điểm tựa để bạn có thể “bật” lại sau những thất bại, khi bạn cảm thấy tuyệt vọng và “Sống và khát vọng” là cuốn sách như thế. Không một chút khuôn sáo, từ ngữ giáo điều, cuốn sách như một thước phim quay chậm về cuộc đời của chính tác giả – diễn giả Trần Đăng Khoa giúp bạn đọc nhận ra rằng “cuộc đời có một bầu trời còn ta có một đôi cánh” 🙂

Đầu tiên bạn hãy tin vào chính mình. Thành công bắt đầu từ việc lựa chọn tin vào chính bản thân mình.

Thứ hai, hãy MƠ ƯỚC. Khi chúng ta có một ước mơ để sống và chiến đấu vì nó, chúng ta có một lý do để sống mạnh mẽ và đầy quyết tâm, một lý do để sống tốt hơn từng ngày, một lý do để tin vào bản thân mình. Hãy không ngừng nuôi dưỡng và thực hiện ước mơ của bạn. Mình đã xem một video của TED talks khá thú vị về định nghĩa sự thành công “the good news is if you are not the smartest, if you’re a C student, not an A student, the really good news is you can still succeed. Because the word “SUCCESS” has two C’s and no A’s”

 Thứ ba, khi gặp khó khăn hay thất bại trong cuộc sống bạn đừng nản lòng vì như tác giả chia sẻ: Mọi chuyện xảy ra trong cuộc đời đều có một ý nghĩa tốt đẹp nào đó. Chúng ta học và trưởng thành từ mỗi bước chúng ta đi, dù đúng hay sai, dù thành công hay thất bại, kết quả  của những bước ấy không quan trọng bằng việc mỗi bước ấy có làm cho chúng ta “NGƯỜI” hơn. Hãy tự hào về bản thân mình, ngay cả khi bạn không làm được như mình mong đợi hay kết quả không như mong muốn, bởi vì điều đáng tự hào ở đây là cho dù có chuyện gì xảy ra bạn vẫn giữ mãi một niềm tin <3.

 

[CNS 8] TRÍ TUỆ DO THÁI – ERAN KATZ

Một cuốn sách khá hay và không nhàm chán, những lý giải về phương pháp phát triển trí tuệ của người Do Thái được tác giả đặt lồng ghép trong cốt truyện cuộc cá cược hài hước giữa 3 anh chàng: Jerome, Eran, Itamar về  sự thay đổi của anh chàng Jerome từ một chàng thanh niên “tầm thường”, thiếu đi mục đích sống trở thành một thạc sỹ Quản trị kinh doanh, có khối tài sản trị giá 50 triệu đô la. Mình thực sự hài lòng khi đã đọc và ghi lại được những điểm sáng từ cuốn sách 😀

Trước hết là một số nguyên tắc hành động của người Do Thái:

Nguyên tắc của trí tưởng tượng: nhận thức điều bất khả thi bằng những phương pháp khả thi. Thông thường theo cách bản thân mình làm: Đặt ra mục tiêu thực tế và nghĩ đến những cách thực tế để đạt được mục tiêu nhưng ngược lại với người Do Thái: Hãy tưởng tượng ra điều ngớ ngẩn nhất có thể. Hãy đặt ra được những mục tiêu phi thực tế đến không tưởng và suy nghĩ một cách thực tế về việc bạn có thể đạt được điều đó bằng cách nào, vì không có gì là không thể.

Nguyên tắc của người sống sót: Nếu muốn phát triển trí thông minh và thành đạt trong cuộc sống thì bạn không bao giờ được cảm thấy hài lòng, thỏa mãn hay đạt đến độ thoải mái và đảm bảo về tài chính. Con người ta phải tiến bộ hàng ngày, lang thang cả về thể xác và tinh thần. Khi thấy thoải mái, ta sẽ chấp nhận mọi việc như nó vốn có. Ta không nghĩ đến chúng nữa, ta chỉ là một con người nhỏ bé trong đám đông, chỉ biết đi cùng hướng với mọi thứ và cho rằng nếu mọi người cùng đi một hướng với mọi thứ và cho rằng nếu mọi người cùng đi một hướng thì chắc chắn đó phải là hướng đúng.

Nguyên tắc của sự hiểu biết: Để học tập mãi mãi, hãy đưa ra những câu hỏi và không bao giờ được coi bất cứ điều gì là chuyện hiển nhiên. Học tập phải luôn nhún nhường “mọi sự huênh hoang cho dù ta thật sự thông minh đi nữa đều khiến sự sáng suốt rời bỏ ta”.

Nguyên tắc về sự nâng cấp: Không cần phát minh ra một thứ hoàn toàn mới, chỉ cần cải tiến những cái có sẵn, dùng những cái có sẵn và tìm cách làm cho chúng đơn giản hơn, dễ sử dụng hơn, hiệu quả hơn.

Nguyên tắc về nguồn cảm hứng: Hãy tìm cho mình một hình mẫu để bắt chước (nhưng không phải hoàn toàn mù quáng) và trên con đường đi hãy thêm những cải tiến, sáng tạo của bản thân. Việc bạn tìm thấy cho mình một hình mẫu của một “thầy đạo” giúp truyền cho bạn cảm hứng, cảm hứng sinh ra sự tự tin giúp đánh thức niềm tin và sức mạnh trong ta mà ta không hề nhận ra là mình có, giúp ta phát huy tốt nhất những khả năng của mình. Sự tự tin bắt nguồn từ thực tế rằng điều ta sắp làm đã được một người khác thực hiện thành công.

Ngoài các Nguyên tắc trên, một số gợi ý của người Do Thái để tăng khả năng ghi nhớ và hiểu tài liệu là điểm  không thể bỏ qua từ cuốn sách:

Gợi ý 1: Phải có niềm tin vào trí nhớ của mình và dựa vào trí nhớ đó

Gợi ý 2: Cố gắng ghi chép rõ ràng những thứ mình học bằng màu mực đen trên nền giấy trắng. Thay vì ghi chép theo hàng dài, bạn có thể ghi chép tách cột. Cùng nhìn vào ví dụ phía dưới nhé: 

VD1: Viết theo hàng ngang: 

“Nguyên tắc về nguồn cảm hứng: Hãy tìm cho mình một hình mẫu để bắt chước (nhưng không phải hoàn toàn mù quáng) và trên con đường đi hãy thêm những cải tiến, sáng tạo của bản thân. Việc bạn tìm thấy cho mình một hình mẫu của một “thầy đạo” giúp truyền cho bạn cảm hứng, cảm hứng sinh ra sự tự tin giúp đánh thức niềm tin và sức mạnh trong ta mà ta không hề nhận ra là mình có, giúp ta phát huy tốt nhất những khả năng của mình. Sự tự tin bắt nguồn từ thực tế rằng điều ta sắp làm đã được một người khác thực hiện thành công”

VD2: Viết theo cột: 

“Nguyên tắc về nguồn cảm hứng: Hãy tìm cho mình một hình mẫu để bắt chước (nhưng không phải hoàn toàn mù quáng) và trên con đường đi hãy thêm những cải tiến, sáng tạo của bản thân.

Việc bạn tìm thấy cho mình một hình mẫu của một “thầy đạo” giúp truyền cho bạn cảm hứng, cảm hứng sinh ra sự tự tin giúp đánh thức niềm tin và sức mạnh trong ta mà ta không hề nhận ra là mình có, giúp ta phát huy tốt nhất những khả năng của mình. Sự tự tin bắt nguồn từ thực tế rằng điều ta sắp làm đã được một người khác thực hiện thành công

Và lý do hoàn toàn thuyết phục đó là: Khi bạn viết theo dòng dài thì phải nâng toàn bộ cánh tay ít nhất 3 lần và mắt sẽ nắm bắt những dòng chữ lâu hơn viết theo cột ngắn.

Gợi ý 3: Hãy tìm và học cùng Hevrutah (một người bạn có thể chia sẻ, thảo luận về những thứ mình học được), nói to và có ngữ điệu trong khi học. Vì sao vậy? Bởi lẽ khi nói to những điều ta học là bổ sung một giác quan nữa vào việc ghi nhớ – thính giác bên cạnh thị giác nếu ta chỉ học bằng cách đọc thầm. Học bằng cách nói to sẽ giúp in dấu ấn kiến thức vào tâm hồn một người để kiến thức đó tồn tại trong trí nhớ lâu hơn.

Gợi ý 4: Học trong tâm trạng vui vẻ, bên cạnh tư thế ngồi học truyền thống – ngồi thẳng lưng tại bàn học bạn có thể học trong lúc tản bộ hoặc đung đưa người bởi cử động đu đưa giúp thiết lập một nhịp điệu  làm cho con người tập trung và gia tăng oxy lên não.

Gợi ý 5: Hãy học ở một nơi cho bạn nguồn cảm hứng, trái tim bạn phải muốn có mặt ở nơi đó.

Gợi ý 6: Trong khi học hãy thoát khỏi mọi yếu tố gây nhiễu: điện thoại, nhu cầu ăn uống. Để chuẩn bị tốt nhất cho việc học, hãy pha trước 1 tách cafe, ăn một chút gì đó cho ấm bụng.

Gợi ý 7: Áp dụng những phương pháp làm tăng khả năng sự tập trung: một lời cầu nguyện, một bài hát hay bất cứ điều gì cho bạn động cơ học tập.

Gợi ý 8: Dần dần đưa bản thân vào một quy trình học tập hợp lý, bắt đầu bằng những thứ đơn giản thú vị. Dành khoảng 15 – 20 phút mỗi lần cho việc khởi động, nghĩ đến lợi ích mà ta nhận được từ việc nghiên cứu tài liệu sắp học; tìm ra một loạt động cơ có thể làm nảy sinh trong mình mong muốn và thúc giục học những điều phức tạp.

Gợi ý 9: Khi làm việc chỉ nghĩ về công việc, khi ở bên gia đình chỉ nghĩ về gia đình, khi học tập thì tận tâm tận lực cho việc học, lúc giải lao thì đừng nghĩ, dù chỉ một chút về thứ bạn vừa học.

Gợi ý 10: Tóm tắt những khái niệm, ý chính bằng từ chủ đạo có thể giúp khởi động trí nhớ của bạn sau này.

Gợi ý 11: Sắp xếp thông tin một cách logic có thể theo nhóm hoặc theo thứ tự thời gian

Gợi ý 12: Luôn nhắc lại và ôn luyện thường xuyên.

Cuốn sách của tháng 1. Mình sẽ thường xuyên xem lại những “điểm sáng” từ cuốn sách này để áp dụng cho học tập, phát triển bản thân <3.

[CNS 7] “TƯƠNG LAI NGHỀ NHÂN SỰ”

   Tuong-lai-cua-nghe-QTNS  Đúng như tựa đề cuốn sách, các tác giả đã đưa ra những khía cạnh mà một chuyên gia nhân sự cần hướng tới trong tương lai: thấu hiểu và quản lý con người; đầu tư vào thế hệ chuyên gia nhân sự kế tiếp; học hỏi để thấu hiểu và đóng vai trò mới; nhận thức, tạo dựng và điều chỉnh văn hóa cho phù hợp với các điều kiện kinh doanh; tư duy lại – coi tổ chức là một tập hợp các năng lực, không phải là một cấu trúc; coi nhân sự là nghệ thuật ra quyết định và đặt ra các nguyên tắc cho nó; tạo ra sự hợp tác qua lại; đáp ứng lại các kỳ vọng xã hội và chính sách công; sống toàn cầu, hành động địa phương. Đối với mình, điểm dừng chân ở cuốn sách này là 4C của một chuyên gia nhân sự: Competent, curious, courageous, care.

1. C1 – Có khả năng (competent): các chuyên gia nhân sự không chỉ hiểu biết về lĩnh vực của mình mà còn có khả năng như các chuyên gia kinh doanh.

Trước hết thể hiện ở sự đóng góp mang tính chiến lược: đóng góp chiến lược là việc chuyên gia nhân sự nhận diện các vấn đề, thiết lập các chiến lược và lựa chọn các đề xuất thay thế. Điều đó có nghĩa là dự đoán các thay đổi và vận hành hệ thống để nhanh chóng ứng phó và thích nghi thay đổi. Ví như công ty của bạn có một chiến lược kinh doanh “new hubs” – bao gồm tăng trưởng về số lượng các cửa hàng mới thì trưởng phòng nhân sự sẽ phải làm gì để thích nghi với sự thay đổi này? Họ phải thiết lập các hệ thống sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu về nhân sự mà chiến lược này sẽ tạo ra trong tương lai  để đảm bảo cung cấp nguồn ứng viên dồi dào cho tổ chức.

Kiến thức kinh doanh: các chuyên gia nhân sự không chỉ cần phải hiểu và nói ngôn ngữ kinh doanh mà còn góp phần trong những đề tài thảo luận chiến lược. Khi Mary Cheddie gia nhập Orvis với vai trò Phó chủ tich nhân sự, bà đã dành thời gian học hỏi về ngành bán lẻ và đã hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận. Bà đã học được rằng các quyết định của nhân viên chịu trách nhiệm mua hàng là chìa khóa dẫn đến thành công của cửa hàng. Vì vậy bà đã kiểm tra chiến lược được sử dụng để tìm kiếm và tuyển dụng cho vị trí này. Khi phát hiện ra rằng chiến lược không mang lại giá trị tốt nhất có thể có, bà đã thay đổi nó. Bà bắt đầu tuyển dụng nhân viên chịu trách nhiệm mua hàng có nhiều năm kinh nghiệm. Tuy làm tăng chi phí nhân viên, bà đã chứng minh rằng chiến lược mới giúp tăng thêm lợi nhuận vì nhân viên có kinh nghiệm sẽ đưa ra các quyết định mua tốt hơn.

Cung cấp các dịch vụ nhân sự (HR delivery): Nhân  sự được xem là xuất sắc khi cung cấp những tài năng lao động giúp công ty thành công.

Uy tín cá nhân (personal credibility): Các chuyên gia nhân sự cần phải đạt được kết quả, có kỹ năng cá nhân vững chắc và giao tiếp hiệu quả.

Công nghệ nhân sự (HR technology): Các chuyên gia nhân sự cần hiểu biết và sử dụng thành thạo các công cụ. Vd như Arte Nathan – phó chủ tịch Nhân sự của khách sạn Bellagio khi đối mặt với thử thách phải có đủ nhân viên cho một khách sạn khai trương, ông đã chuyển sang sử dụng công nghệ. Ông đã phát triển một quy trình tuyển dụng không cần giấy tờ, nhận 75.000 đơn xin việc trong vòng 5 tháng, tuyển dụng gần 10.000 người, dữ liệu này sau đó đã trở thành nền tảng giúp các nhà quản lý có quyền truy cập điện tử vào hồ sơ nhân sự. Từ đó giúp nhân sự nhanh chóng chọn được đúng người – những nhân viên sẽ cung cấp dịch vụ tuyệt vời cho khách hàng.

 2. Ham học hỏi (Curious)

 Các chuyên gia nhân sự nên có tính ham học hỏi, học hỏi từ những gì đang diễn ra trong tổ chức. Các chuyên gia nhân sự nên tham khảo các CEO về những gì họ mất ngủ hàng đêm. Nếu không tập trung vào cùng vấn đề tương tự, có nghĩa là nhân sự không mang nhiều giá trị gia tăng.

Vượt ra ngoài tổ chức, các chuyên gia nhân sự nên học hỏi về ngành kinh doanh của công ty, hiểu cách thức mà các đồng nghiệp trong ngành đối phó với các vấn đề chung, cũng nên “tò mò” các chuyên gia nhân sự các ngành khác hoạt động như thế nào, thử nhận diện vấn đề nhân sự chung trong các ngành khác nhau, cũng như tìm hiểu xem vấn đề đó được giải quyết bằng cách nào.

Các chuyên gia nhân sự cần phải học hỏi về các xu hướng mới nổi trong thế giới xung quanh: chúng là gì, chúng tác động đến như thế nào đến tổ chức trong tương lai.

3. Lòng can đảm (Courageous)

Giám đốc điều hành của SHRM, Mike Losey đã đặt chế độ bảo vệ màn hình làm việc với dòng chữ “Nhân sự không phải là công việc dành cho những người không có tình phiêu lưu” và một CEO khi được hỏi nói về những điều họ mong muốn từ Nhân sự của họ trong tổ chức là “muốn ai đó có sự quyết tâm”.

Lòng can đảm để làm những việc đúng đắn khi bị chịu áp lực rất lớn để làm những điều khác. Ví như một chuyên gia nhân sự biết đọc các báo cáo tài chính sẽ đủ can đảm để phản đối các báo cáo tài chính không phản ánh chính xác sự thật. Một chuyên gia nhân sự hiểu biết về luật lao động sẽ dám tuyên bố rằng luật không thể bị bẻ cong, hoặc tệ hơn nữa là bị bỏ qua.

4. Quan tâm đến mọi người (care about people)

Con người luôn là tài sản quan trọng của bất cứ tổ chức nào. Nếu một ai đó bước vào ngành nhân sự vì “thích làm việc với con người” thì sẽ không đủ. Mình nhớ rằng khi còn là sinh viên năm thứ 3 đi phỏng vấn cho vị trí HR intern, chị trưởng phòng nhân sự có hỏi mình “Vì sao em học ngành này”, mình trả lời rằng “em thích học ngành này vì em biết công việc này đòi hỏi những người yêu thích làm việc với con người.”

Tuy nhiên “yêu thích làm việc với con người” là chưa đủ, quan tâm đến mọi người là việc các chuyên gia nhân sự có sự đánh giá công bằng đóng góp của nhân viên với tổ chức. Các chuyên gia nhân sự quan tâm đến con người sẽ nỗ lực để loại trừ hoặc giảm thiểu tác động bất lợi trên mọi người có thể xuất phát từ các chiến lược và quyết định kinh doanh khắc nghiệt. Họ đưa ra giải pháp nhân sự xuất sắc vì muốn đảm bảo rằng các nhân viên được đối xử công bằng và được tôn trọng.

Cuốn sách cuối cùng khép lại năm 2014, thấy rằng để đạt được mục tiêu xa hơn – trở thành một chuyên gia nhân sự trong tương lai thì mình cần phải thiết lập và thực hiện được những mục tiêu  ngắn hạn như thế nào? Một câu hỏi cần được trả lời trong mục tiêu 2015 :D. Let try to gain the best <3.

[CNS 6] “TÔI TỰ HỌC” – NGUYỄN DUY CẦN

Tôi tự học

 Một cuốn sách giúp mình lấy lại tinh thần học tập và làm việc 😉

“Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy”. Thật vậy, để có một nền tảng văn hóa sâu rộng thì sự tự học là một trong những công cụ chính yếu. Tìm hiểu những chia sẻ của học giả Nguyễn Duy Cần thông qua cuốn sách “Tôi tự học”  mình học được ba điểm khá tâm đắc và ứng dụng ngay với bản thân lúc này đó là: những yếu tố chính của sự tự học, phương tiện chính yếu của sự tự học là gì và cần rèn luyện theo những nguyên tắc nào để học tập và làm việc hiệu quả.

Trước hết là những yếu tố chính của sự tự học.

Yếu tố đầu tiên, sự cố gắng bởi một sự cố gắng dù nhỏ đến đâu cũng là điều kiện cần thiết để cho ta tiến bộ.

Thứ hai, để có sự cố gắng bền bỉ thì bạn cần tìm thấy sự hứng thú trong học tập.

Thứ ba, biết tổ chức sự hiểu biết của mình. Tổ chức sự hiểu biết là cách bạn biết cách tổ chức những tài liệu mình thu thập được thành một cái biết có cơ sở vững vàng của riêng mình mà nói như tác giả “kẻ có trình độ văn hóa rộng là người có rất nhiều bậc thầy nhưng không nô lệ một ông thầy nào cả”.

Thứ tư, nên rèn luyện cho mình óc phê bình “sáng suốt và linh động”. Không nên học tiếp thu kiến thức theo lối thụ động mà phải học tập theo lỗi nghiền ngẫm, suy nghĩ.

Thứ năm, hướng đến mục đích của  sự học tập là để thành công trên con đường xử thế.

Thứ sáu, biết tuyển chọn. Có hai cách để tuyển chọn đó là: lượm lặt tinh hoa của tất cả sách vở bất cứ loại gì, thời nào hoặc có thể chọn riêng một đầu đề làm trung tâm nghiên cứu, tuyển chọn những gì liên quan, mỗi ngày đi sâu vào một vấn đề. Bản thân mình thì chọn cách thứ hai. Là một sinh viên chuyên ngành Nhân sự thì đầu đề làm trung tâm sẽ là con người trong một tổ chức từ đó tuyển chọn những vấn đề liên quan để đi sâu tìm hiểu ví như: tâm lý học, phúc lợi như thế nào, tuyển dụng, sử dụng nhân lực ra sao…

Khi đã hiểu được những yếu tố để có thể tự học ở trên thì phương tiện chính yếu của sự tự học sẽ là gì? Phương tiện chính yếu của sự tự học đó là đọc sách hay xa hơn là học tập từ sách.  Cần loại trừ những loại sách dài lê thê, bất tận, sách buồn chán, sách đọc “khó tiêu”. Một câu hỏi đặt ra là nếu là người mới bắt đầu vào quá trình tự học, thì làm thể nào để chọn được “sách hay”, mẹo nhỏ hữu ích là sách hay trước hết là sách học, bạn có thể nhờ những “bậc học thức cao” giới thiệu hoặc chọn sách như người mua đồ tinh tế – mua những sách của những tác giả có tên tuổi viết ra, được tái bản lại nhiều lần. Chọn được sách hay nhưng cách đọc sách cũng vô cùng quan trọng.

Thứ nhất, cần có một tâm thế và tư thế đọc sách đúng: nên dành cho mình thời gian đọc sách trong yên lặng và cô tịch, tránh vừa đọc vừa nói chuyện, vừa đọc vừa ăn hoặc đọc thoáng qua một trang rồi trả lời điện thoại.

Thứ hai, chỉ đọc sách hay. Sách hay là sách “càng đọc đi đọc lại chừng nào càng thấy nó rộng rãi và sâu xa chừng ấy”. Những quyển sách này phải khêu gợi cho ta thêm suy nghĩ, làm giàu cho ta  về kinh nghiệm, tư tưởng, tài liệu.

Thứ ba, nên trau dồi vốn ngoại ngữ để có thể tiếp cận được các sách nguyên văn do chính tác giả viết chứ không phải thông qua cuốn sách dịch. Vì điểm hạn chế của các sách dịch là người dịch cũng chỉ dịch theo sự hiểu biết tạm thời của họ. “….muốn biết Lão Tử mà đọc cuốn Lão Tử của Ngô Tất Tố thì chỉ biết được Lão Tử theo Ngô Tất Tố chứ chắc chắn không hiểu được Lão Tử…”.

Thứ tư, tránh đọc sách có quá nhiều chú giải.

Thứ năm, đọc sách phải đọc đi đọc lại nhiều lần.

Thứ sáu, đọc những sách cao hơn tầm hiểu biết của mình. Nếu đọc những sách cùng trình độ với mình chỉ mang lại “sự tán tụng phụ họa” mà không giúp ta suy nghĩ thêm nhiều vấn đề, trái lại đọc những quyển sách cao hơn tầm hiểu biết của mình dù là chưa hiểu hết tư tưởng của tác giả ngay nhưng sẽ giúp ta đào sâu óc suy nghĩ.

Thứ bảy, cần ôn lại những gì ta đã biết hoặc suy nghĩ về vấn đề cuốn sách nêu ra sau đó mới đọc sách để xem tác giả giải quyết hoặc đặt vấn đề như thế nào.

Thứ tám, đọc sách cần phải đồng hóa với nó và phản đối lại với nó. Trong khi đọc sách nên để một phần ý kiến của mình vào đó, đem tư tưởng của tác giả đối chiếu với kinh nghiệm của mình, không nên đọc sách mà tin cả sách cũng như câu nào cũng phản đối lại. Đọc sách không nên chỉ đọc tới đâu hay tới đó như truyện thư giãn mà nên chọn từng vấn đề nhỏ trong quyển sách đặt ra cho mình hướng giải quyết trước khi đi sâu vào quyển sách.

Thứ chín, trước khi đọc sách cần xem mục lục. Nhìn vào mục lục sẽ thấy được tính mạch lạc trong quyển sách, biết cách giải quyết vấn đề của tác giả như thế nào.

Thứ mười, viết lại những gì mình đã đọc. Bên cạnh việc chép lại và tóm tắt ngắn gọn những gì mình đã đọc thì cần có cảm tưởng, ý kiến của mình phản bác lại với tác giả, chắt lọc những gì nên giữ, những gì nên bỏ.

Nắm được phương tiện chính yếu của sự tự học thôi vẫn chưa đủ, để tạo dựng cho bản thân một  nền tảng văn hóa vững chắc cả về bề sâu lẫn bề rộng thì cần có nguyên tắc học tập và làm việc đúng:

Thứ nhất, đi từ cái dễ đến cái khó, tin ở sự thành công. Học bất cứ thứ gì cũng phải khởi đầu từ “sơ đẳng, cơ bản” không được học “tắt”, “đốt cháy giai đoạn”.

Thứ hai, phải làm việc đều đều, tránh gián đoạn. Nên học mỗi ngày một ít nhưng ngày nào cũng học tránh cách học một ngày thâu đêm rồi lại ngủ hai ba tuần.

Thứ ba, biết quý thời gian làm việc học tập và đặt cho nó thành một kỷ luật.

Thứ tư, làm việc gì thì hãy làm cho hoàn tất, đừng phải trở lại lần thứ hai.

Cuối cùng, quan trọng hơn cả, muốn làm việc và học tập hiệu qủa bạn phải có sức khỏe dồi dào.

Gấp lại cuốn sách mình thấy rằng tự học thông qua đọc sách rất quan trọng nhưng cần phải biết kết hợp với xem xét, quan sát, phê bình những sự vật xung quanh đời sống. Mỗi người tùy khả năng, tính cách của mình mà tìm ra cho mình phương pháp thích ứng nhất. Câu nói tâm đắc mình đọc được từ cuốn sách “người học thức là người thà biết ít mà thật biết còn những gì mình không biết thì cũng biết rõ là mình không biết”.