[CNS 16] TÌM ĐƯỜNG TUỔI 20S

   Mình đọc cuốn sách này trước hết là sự tò mò với cái tên “Tìm đường tuổi 20s” (“20s” hay “twentysomething” chỉ những người trong độ tuổi từ 20 đến 29). Một cô gái 24 tuổi như mình muốn biết xem một người Chị thế hệ 20s muốn chia sẻ điều gì qua cuốn sách này. Sách viết theo lối tự thuật, ngôn ngữ dung dị, không hoa mỹ. Đọc cuốn sách mình tìm thấy sự đồng điệu với những trải nghiệm của cá nhân Chị chia sẻ. Một vài chia sẻ của Chị mình muốn ghi lại để học hỏi.
  Khi gặp vấn đề gì đó thông thường chúng ta rơi vào sự rối rắm, nhùng nhằng, không sáng rõ trong tư duy do bị cảm xúc tiêu cực phủ lên, việc bạn cần làm là viết ra tất cả suy nghĩ của mình, sau đó định hình lại vấn đề mình gặp phải, tập trung đi tìm giải pháp, hướng đến hành động giải quyết vấn đề đó. Khi rơi vào bế tắc, chán nản với cuộc sống hiện tại, hãy đến một môi trường mới, gặp gỡ những con người có góc nhìn mới, ta sẽ thấy cuộc sống thật thú vị, còn nhiều điều chưa biết, và rất nhiều điều để khám phá.
  Ai cũng có những nhược điểm và ưu điểm, nhược điểm đôi khi chỉ là vỏ bọc nguỵ trang của ưu điểm. Chỉ khi ta biết chấp nhận, yêu thương bản thân, nhìn sâu hơn vào cái tưởng như nhược điểm ấy, chúng ta mới khám phá được ưu điểm trong mình, mới hiểu được giá trị thực tế của bản thân, và nhận ra những góc sáng tuyệt đẹp mình có. Sự tự tin phải đến từ quá trình xây dựng tình yêu với bản thân, chấp nhận bản thân, thành thật với bản thân. Càng hiểu bản thân mình bao nhiêu, bạn sẽ nhận ra được những góc khác nằm sâu trong mình. Không đánh bóng bản thân, Chị đã chia sẽ thực trước đây chị cũng là người hướng nội, khiến Chị phải đối mặt với thách thức lớn khi du học tại Mỹ, một môi trường lý tưởng cho các bạn hướng ngoại được thoải mái bộc lộ cá tính, tiếng nói cá nhân. Thay vì lẩn tránh, Chị tìm ra điểm mạnh của người hướng nội: khả năng lắng nghe, suy nghĩ thấu đáo, hướng tới chiều sâu hơn bề nổi để thích nghi, làm chủ mình trong việc học tập tại trường. Ví dụ như trong các buổi hoạt động nhóm, Chị chủ động là người ghi chép ý kiến, tận dụng thế mạnh và ý tưởng của từng người trong nhóm một cách tốt nhất thay vì cố gắng đưa tiếng nói cá nhân vào ngay từ đầu. Chị giúp mọi người trong nhóm phân tích cái hay, cái hợp lý, cũng như cái cần phải cân nhắc trong mỗi ý tưởng, kết quả là Chị được chọn là leader nhóm và có những thành tích khá ấn tượng kể từ khi bước ra khỏi vỏ ốc của chính mình trong thời gian du học. Hiểu biết đến từ việc nắm bắt và chấp nhận những thiếu sót của bản thân.
  Để duy trì động lực lâu dài, bạn cần có cả “intrinsic motivation – động lực có được từ bên trong công việc” và “extrinsic autonomous motivation – động lực đến từ nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của những việc mình làm, tầm quan trọng của những giá trị mình đang tạo ra”. Làm bất kỳ việc gì cũng vậy, không phải lúc nào hay cái gì mình làm cũng có động lực từ bên trong, sẽ có những lúc ta phải làm những việc tuy mình không thích nhưng lại cần thiết để đạt tới cột mốc xa hơn.
  Hãy rèn luyện bản thân theo mô hình A3E2: Ability (năng lực làm việc), Agility (khả năng thích ứng nhanh chóng với những việc mới dựa trên những kỹ năng đã có, khả năng học hỏi nhanh), Aspiration (có hoài bão, mong muốn phát triển bản thân), Emotional intelligence (khả năng nắm bắt cảm xúc của bản thân và của người khác để biết hành xử phù hợp trong các hoàn cảnh khác nhau, Engagement (sự gắn bó, cam kết lâu dài, nhiệt huyết với công việc, tổ chức.

Trên con đường thực hiện mục tiêu của mỗi cá nhân, sẽ có lúc bạn cảm thấy thực sự mệt mỏi, mung lung về tương lai và muốn buông bỏ, tuy nhiên hãy nhìn vào đích đến của mình để có thêm động lực, có thêm năng lượng trên con đường dài đầy thách thức và thực hiện nó với tất cả sự cam kết của bản thân mình. Mình rất thích một câu nói “Today, the challenge is great difficulties; In a lifetime, the challenge is a small difficulty; Eternally, the challenge is nothing” (Xét trong ngày hôm nay thử thách là một khó khăn lớn; xét trong cả cuộc đời, thử thách là khó khăn nhỏ; xét trong vĩnh hằng, một thử thách chẳng là gì cả). Vậy thì khi gặp thử thách nào đó hãy xét nó vào trong cả cuộc đời nhỉ, sẽ chỉ là một hạt cát rất nhỏ thôi 😉

[CNS 15] CHANGE YOUR THINKING, CHANGE YOUR LIFE

brian-tracy_change-your-thinking-change-your-lifeTo improve my English skill, I have started to read English books. This is the first English book which I read and the most inspired book I have ever read too. It is so amazing when I read this book and don’t need one a minute, I decide to write down some messages which Brian Tracy gives the reader:

The most important principle of human life is that you become what you think about most of the time. Your outer world is very much a reflection of your inner world. If you change your thinking, you change your life.

After reading the preceding paragraph, the question is “what is changing your thinking?” Change thinking is the way you think about yourself, your abilities, and your potential – your self – concept – determines everything you are today, and everything you ever will be. Self – concept has three parts: self – ideal, self – image, self – esteem.
Self – ideal: your self – ideal is made up of all of your hopes, dreams, visions, and ideals. Your self – ideal is the person you would most like to become. If you could be a perfect person in every way, these ideals guide and shape your behavior.
Self – image: This is the way you see you and think about yourself. It is often called your “inner mirror”. It is where you look internally to see how you should behave in a particular situation. Because of the power of your self – image, you always perform on the outside consistent with the picture you have of yourself on the inside.
Self – esteem: This is the emotional component of your personality and is the most important factor in determining how you think, feel and behave. Your self – esteem is the best defined as how much you like yourself. The more you like yourself, the better you perform at anything you attempt. Your self – esteem is the “reactor core” of your personality. It is the energy source that determines your level of confidence and enthusiasm. The more you like your self, the higher will be the standards you will set for yourself. The more you like yourself, the bigger the goals you will set for yourself and the longer you will persist in achieving them. People with high self – esteem are virtually unstoppable. By taking complete control over the words, pictures, and ideas you let into your mind, you take complete control of your future. “You are a thoroughly good person. You are honest, decent, truthful, and hard working. You treat other people with courtesy, respect, and warmth. You are dedicated to your family, friends, and your company. You are strong, confident and responsible. You are knowledgeable, intelligent and experienced. You are important not only to the people closed to you but also to your community. You were born for a special reason, and you have a great destiny to fulfill. You are an excellent person tin everyway”. When you unconditionally accept that you are truly valuable and worthwhile person, you will express it in everything you say and do. Overtime, it will become true for you. Your ideal will become your reality. Your biggest challenge and your greatest responsibility are to create within yourself the mental equivalent of what you want to experience on the outside. By doing this, you activate all your mental powers, and put the forces of the universe to work on your behalf. You take full control over your life. Over and over, the most successful men and women report the same things. They think what about they want and how to get it most of the time. When you think and talk continuously about what you want and how to get it, this way of thinking soon becomes a habit. When you think and talk about what you want, you become more positive, purposeful, and creative. When you stay focused on where you’re going, you become more productive and effective person.

By getting rid of negative emotions, you liberate your potential and change your life. The elimination of negative emotions is the most important single step you can take toward health, happiness, and personal wellbeing. There are four basic causes of negative emotions: justification, identification, inward considering and blame.
Justification is what you do when you rationalize or create a reason for your anger and unhappiness. You tell yourself and whoever else will listen, how badly you were treated and how dreadfully the other person behaved. You continually rehash the situation in your mind. You repeat all the reason you have for being upset. Each time you think of the person or situation, you become angry, you feel entitled to your anger as if you have paid a high price for it, especially since, in your estimation, you were such a good and virtuous person. The way you short – circuit the natural tendency toward justification and rationalization is by refusing to engage in it. Instead, you stop justifying. You use your marvelous mind to think of reasons not to justify your negative emotions. Instead of justifying your anger and unhappiness, you should use your intelligence and imagination to excuse the other person, or to let go of the unhappy situation. For example, if someone cuts you off in traffic, instead of becoming angry, you say “well, I guess he must be late for an important appointment”.
Identification or Attachment is the second major cause of negative emotion. This occurs when you take something personally or you become attached to a person or thing. You see the unhappy outcome of an event or circumstance as a personal affront or attack on you on something. You believe in or hold dearly you become emotionally involved in a situation and identify so strongly with it that it affects your emotions and your reason in a negative way.
The third major cause of negative emotion is inward considering. This occurs when you become overly concerned with the way people are treating you. If you perceive that someone is not giving you the respect that you feel you deserve, you can feel insulted and angry, and want to strike back.
The fourth major cause of negative emotion is blame. It is blame especially that generates anger, the worst of all the negative emotions. To become angry, a person must be able to blame someone for something. The best way to eliminate anger of all kinds is to accept responsibility. The acceptance of responsibility immediately short – circuits the emotion of anger. As soon as you say “I am responsible”, your anger stops. The root cause negative emotions, the main factor that predisposes a person to blaming and to anger and resentment, fear, and doubt, envy and jealousy is the inability to forgive someone we feel has hurt us in some way. There are four group people you need to forgive if you are serious about changing your thinking and changing your life.
The first is your parents, living or dead. You must absolutely forgive them for every mistake they ever made in bringing you up. At the very least, you should be grateful to them for giving your life. In contrast, by not forgiving your parents, you remain forever a child. You block your own chance to grow up and become a fully functioning adult.
The second group you must forgive is the people from your close relationships that didn’t work out. Marriage and other intimate relationships can be so intense and so threatening to your feelings of self – esteem and self – worth, that you can be angry and unforgiving toward those people for years. But you were at least partially responsible. Have the personal strength and integrity to say “I am responsible” and then forgive the other person and let him or her go. Say the words “I forgive him/her for everything and I wish him/her well”. Each time you repeat this, the negative emotion attached to the memory will diminish. Soon it will be gone forever.
The third group you must forgive is everyone else in your life who has ever hurt you in anyway. Let them go. Forgive every boss, business partner, friend, crook or betrayer who has ever caused you grief of any kind. Clean the slate, wipe each of their names and images off by saying “I forgive him/her for everything and I wish him/her well”. “The letter” is a powerful technique that can free you from feelings of anger and resentment almost instantly. You sit down write the other person a letter of forgiveness. It consists of three parts. First you say, “I forgive you for everything you ever did that hurt me”. Second, you write out a description or list of every single thing that you are still angry about. Third, you end the letter with the word, “I wish you well”. You then take the letter to the mailbox and drop it in. At that moment, you will feel a huge sense of relief, and you will be free at last. By the way, don’t worry about how the other person might react. That is not your concern. Your goal is to free yourself, to regain your peace of mind, and to get on with the wonderful life that lies ahead of you.
The fourth and final person you have to forgive is yourself. You must absolutely forgive yourself for every silly, senseless, wicked, brainless, thoughtless or cruel thing you have ever done or said. Stop carrying these past mistakes around with you. Think of it this way: when you did those things in the past that you still feel badly about, you were not the person you are today. At that time, you were a different person, younger and less experienced. You were not your true self. You were an immature version of the person you have become with experience. Stop beating yourself up for something that occurred in the past that you cannot change.

The most important quality you can develop to achieve greater success and happiness is the quality of optimism. Optimists seem to have two special ways of dealing with life. First, optimists look for the good in every situation, especially when they experience reversals and setbacks. They keep themselves positive by looking for the bright side, the silver lining, to every problem. And they always find something. Second, optimists seek the valuable lesson in every lesson in every problem or difficulty. They believe that each temporary failure or obstacle has been sent to teach them something. In addition to looking for the good and seeking the valuable lesson, optimists have seven orientations, or generalized ways of thinking about themselves and their lives:
First, positive, happy people are future-oriented. They think and talk about the future much of the time. They think and talk about where they are going, rather than about what happened in the past. Then create a clear, exciting future vision of what is possible for them.
Second, they are goals-oriented. They think and talk about their goals much of the time. Once they have dreamed and fantasized about their ideal future visions, they boil them down into clear, written goals and plans that they work on every day. They focus their attention and concentrate their energies. They use their goal to take control over their futures.
Third, they are excellence – oriented. They commit to becoming excellent at what they do, to joining the top 10 percent of people in their field, whatever it is. They identify their key result areas, and set standards of excellent performance for themselves in each one. They work on themselves each day, and never stop improving.
Fourth, they are solution – oriented. They think about the solution rather than the problem. They think about what needs to be done rather than who is to blame. They use creative thinking methods to unlock their creativity and that of the people around them. They view their goals as problems to be solved, and they believe that there is a logical solution to every difficulty just waiting to be found.
Fifth, successful, happy people are intensely results-oriented. They carefully plan each day in advance. They set clear priorities on their activities. They then work on those tasks that represent the most valuable use of their time. They plow through enormous amounts of work and become known as highly productive people.
Sixth, high performers are growth-oriented. They are continually reading, listening to audio programs, and attending additional courses and seminars. They are determined to stay at the cutting edge of the fields.
Seventh, and perhaps more important than any of the others, the most successful people are intensely action – oriented. They think about what they can do, right now, to move faster toward their goals. They are constant motion. They work in real time.

There are no real limits to what you can be, do and have, except for the limits you replace on yourself. You are a thoroughly good and extremely talented person, and there is very little that you can not achieve if you want it intensely enough and work toward it long enough and hard enough. The key is to begin today, and then never give up!

GIẢI THÍCH MỘT SỐ THUẬT NGỮ CHUYÊN NGÀNH

Các thuật ngữ được tổng hợp từ site: https://sites.google.com/site/thuatngulaodongxahoi/

I. NHÓM THUẬT NGỮ VỀ PHÚC LỢI

  • Pay rate – Bậc lương: là mức lương hoặc hệ số mức lương so với tiền lương tối thiểu của một bậc cụ thể. Trong thang lương, bậc lương dùng để phân biệt về trình độ lành nghề của người lao động và được xếp từ thấp đến cao. Số bậc lương trong thang lương phụ thuộc vào mức độ phức tạp của công việc. Đối với bảng lương, bậc lương vừa phản ánh trình độ lành nghề vừa phản ánh thâm niên làm việc. Khoảng cách giữa các bậc trong thang lương được thiết kế tăng dần đều hoặc luỹ tiến hoặc luỹ thoái và được tính toán phù hợp, khuyến khích người lao động nâng cao trình độ, tích luỹ kinh nghiệm để thi đạt bậc cao hơn khi công việc có yêu cầu đòi hỏi.  

  • Salary/Pay table – Bảng lương: là một bảng gồm 1 số mức lương được thiết kế cho chức danh hoặc nhóm chức danh nghề, công việc. Trong bảng lương có thể có 1 hoặc nhiều ngạch, giữa các ngạch thể hiện trình độ, vị trí làm việc khác nhau. Trong 1 ngạch có 1 mức lương chuẩn và một số bậc lương

  • Income/ wages policies – Chính sách thu nhập: chính sách được Chính phủ thiết kế để hạn chế mức tăng trưởng tiền trả công với nỗ lực nhằm giảm mức tăng lạm phát. Chính sách thu nhập có một số qui định chung như điều khoản về mức tăng phần trăm hoặc mức tăng tuyệt đối về tiền lương, một số ngoại lệ về trả lương thấp và tăng lương liên quan đến sự cải thiện năng suất. Ở Anh, chính sách thu nhập những năm 1961-70 được gọi là tiền công ngưng trệ (pay pause); sau đó là chính sách tự nguyện – nó tùy thuộc vào khả năng Chính phủ thuyết phục công đoàn với giới sử dụng lao dộng chấp thuận chính sách; và thời kỳ chính sách “pháp quyền” khi chính phủ dùng quyền lực áp đặt các hình phạt lên các bên vi phạm chính sách. Sau năm 1979, chính phủ Anh theo đuổi chính sách kinh tế dựa vào cung tiền tệ để kiểm soát lạm phát nên chính sách thu nhập mất vai trò của mình. 

  • Basic pay, basic rate – Lương cơ bản: là mức lương theo thời gian được đảm bảo trả thuộc hệ thống thang bảng lương hiện hành, chưa tính đến làm ngoài giờ, thưởng và phụ cấp. Trong khu vực nhà nước, lương cơ bản thường được tính bằng hệ số lương nhân với mức lương tối thiểu. Trong khu vực phi quốc doanh, lương cơ bản thường là mức lương thoả thuận được ghi trong hợp đồng lao động. Lương cơ bản của người lao động phụ thuộc vào mặt bằng trả công lao động trên thị trường lao động, kết quả thương lượng giữa người sử dụng lao động và người lao động.  

  • Minimum wage/ salary – Lương tối thiểu: là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành. Mức lương tối thiểu ngành được xác định thông qua thương lượng tập thể ngành, được ghi trong thỏa ước lao động tập thể ngành. Trên thế giới, đã có hơn 90% các quốc gia ban hành luật tiền lương tối thiểu. ILO ban hành Công ước số 131 về ấn định mức tiền công tối thiểu và Khuyến nghị hướng dẫn số 135.

  • Step 1 pay rate of wage schedule – Mức lương bậc 1 của thang lương: là mức lương của nghề, công việc gắn với tiêu chuẩn cấp bậc kĩ thuật có độ phức tạp thấp nhất, thông thường mức lương bậc 1 cao hơn so với mức lương tối thiểu. Đối với bảng lương, mức lương bậc 1 là mức lương chuẩn, thể hiện thâm niên làm việc ít nhất trong ngạch lương đó.  

  • Fringe benefits – Phụ cấp: là những khoản lợi ích khác ngoài lương cơ bản mà người sử dụng lao động trả thêm cho người lao động, thí dụ tiền thưởng các kỳ nghỉ, trợ cấp ăn trưa, ăn ca, hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm và hưu trí và các quyền lợi ưu đãi khác như đi lại bằng ô tô của công ty, vay vốn ưu đãi, mua cổ phiếu của công ty

  • Salary – Tiền lương: là mức trả thù lao hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động được ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận miệng, phù hợp với quan hệ cung – cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với các quy định tiền lương của pháp luật lao động. Tiền lương được người sử dụng lao động trả cho người lao động một cách thường xuyên, ổn định trong khoảng thời gian hợp đồng lao động (tuần, tháng, năm…).

  • Money earnings – Tiền lương danh nghĩa: là số lượng tiền mà người lao động thực nhận được, chưa tính đến yếu tố lạm phát hay sức mua của số tiền nhận được theo thời giá. Chính vì vậy, tiền lương danh nghĩa chưa phản ánh đầy đủ mức trả công lao động nhằm bù đắp sức lao động bỏ ra bằng lượng hàng hóa và dịch vụ theo mặt bằng giá ở một nơi và thời điểm nhất định. Khác với lương danh nghĩa là lương thực tế được tính bằng cách loại bỏ sự ảnh hưởng của giá cả ra khỏi tiền lương danh nghĩa

  • Real earnings – Tiền lương thực tế: là số lượng hàng hóa và dịch vụ sinh hoạt mà người lao động trao đổi được bằng tiền lương danh nghĩa của mình sau khi đã đóng các khoản thuế, khoản đóng góp, khoản nộp theo qui định. Do đó có thể nói rằng, chỉ có tiền lương thực tế mới phản ánh chính xác mức sống thực của người lao động trong các thời điểm. Chỉ số tiền lương thực tế tỷ lệ thuận với chỉ số tiền lương danh nghĩa và tỷ lệ nghịch với chỉ số giá cả. 

  • Job-grading system – Tiêu chuẩn cấp bậc kĩ thuật: là văn bản qui định về mức độ phức tạp của công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề của công nhân ở một bậc nào đó phải có, yêu cầu hiểu biết nhất định về lí thuyết và phải làm được những công việc nhất định trong thực hành. Trong bản tiêu chuẩn thì cấp bậc kĩ thuật và trình độ lành nghề của công nhân có liên quan chặt chẽ với nhau, trong đó yêu cầu trình độ lành nghề của người công nhân phải đáp ứng được yêu cầu về mức độ phức tạp của công việc, nghĩa là cấp bậc công nhân phải phù hợp với cấp bậc công việc.  

  • Gross pay – Tổng thù lao lao động: là tổng số tiền mà người lao động được trả trong kỳ trả công (thường là kỳ theo tuần hoặc tháng). Tổng thù lao bao gồm lương cơ bản, tiền làm ngoài giờ, các khoản thưởng, các khoản phụ cấp phúc lợi khác. Đây là các khoản trả chưa khấu trừ thuế. Sau khi khấu trừ thuế, người lao động thực nhận được lương thuần/tịnh hay lương thực mang về nhà. 

  • Payroll – quĩ lương/bảng lương (1) Quĩ lương là tổng số tiền lương, thưởng trả cho người lao động. Thuế thu nhập (thuế tiền lương) xác định trên tổng quĩ lương của công ty. (2) Bảng lương là danh sách người nhận lương và số tiền lương của từng người.  

  • Bonus – Tiền thưởng: là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở

  • Payment in kind/in – kind income – trả công, lương bằng hiện vật là việc chi trả công, tiền lương không phải bằng tiền mặt. Đó là các loại hàng hoá được người sử dụng lao động cung cấp (miễn phí hoặc giá ưu đãi) cho người lao động hoặc người phụ thuộc, và các cựu công nhân viên

  • Payment by result – trả lương theo kết quả là hình thức trả công, tiền lương dựa vào các yếu tố liên quan đến kết quả làm việc của người lao động hơn là dựa vào thời gian người đó có mặt tại nơi làm việc. Trả theo kết quả bao gồm: (1) trả khoán sản phẩm là tiền lương trả cho người lao động hay một nhóm lao động dựa vào số lượng và chất lượng sản phẩm làm được. (2) trả theo thành tích là tiền lương trả cho người lao động/ nhóm người lao động dựa vào sự đánh giá kết quả thực hiện công việc; (3) trả theo bình bầu là một hình thức trả theo thành tích có gắn tiền trả với kết quả bình bầu công việc làm của mỗi cá nhân.  

  • Piece rate – lương theo sản phẩm là tiền lương trả căn cứ vào khối lượng sản phẩm làm ra. Ở hình thức đơn giản nhất, hệ thống trả lương theo sản phẩm là trả đơn giá tiền lương như nhau cho mỗi đơn vị sản phẩm hoàn thành. 

  • Benchmarking – Định chuẩn nguồn nhân lực là quá trình so sánh hoạt động nguồn nhân lực của một tổ chức với các tổ chức khác, kể cả đối thủ cạnh tranh như là một phương thức để nhận diện cách thức tạo lập lợi thế cạnh tranh. Định chuẩn là một phương pháp qua đó quản trị viên nguồn nhân lực tìm kiếm phương án cách thức thực hành tốt nhất và so sánh các chi phí liên qua đến tuyển chọn, đào tạo và tưởng thưởng nhân viên với những lợi ích thu được bởi những ảnh hưởng của nó

    II. NHÓM THUẬT NGỮ VỀ LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM

  • Occupational disease  – Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do các yếu tố điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động tới người lao động theo danh mục các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành. Người lao động bị bệnh nghề nghiệp được bồi thường theo kết luận của biên bản kết luận của cơ quan Pháp y hoặc của Hội đồng Giám định Y khoa.  

  • Demand for labour – Cầu lao động: Theo Bộ LĐTB-XH, cầu lao động là tập hợp những người đang có việc làm hoặc có khả năng có việc làm trong tương lai. Theo Investopedia, đó là số lượng lao động mà nền kinh tế hay một công ty muốn tuyển ở một thời điểm nhất định. Cầu lao động có xu hướng làm tăng mặt bằng lương trên thị trường – người sử dụng cần trả mức lương cạnh tranh để thu hút người lao động có tay nghề nhất định đến làm cho mình

  • Current demand for labour, labour shortages – Cầu lao động thực tế: là số người nhất định trong một nghề nào đó mà người sử dụng lao động cần để bổ khuyết vào những nơi đang thiếu lao động, vào dây chuyền sản xuất mới lắp đặt hoặc cơ sở mới được đầu tư.

  • Potential demand for labour – Cầu tiềm năng: là khả năng kéo dài ngày công lao động thực tế của những người đang làm việc mà không có thay đổi về công nghệ hoặc khả năng tăng cường độ lao động do thay đổi tổ chức lao động, tổ chức sản xuất. Khi cầu tiềm năng được phát huy thì sẽ làm giảm cầu thực tế.  

  • Quality of labour, human capital – Chất lượng lao động: đó là tập hợp kỹ năng, kiến thức và các tài sản vô hình khác mà người lao động có được và có thể được dùng để tạo ra giá trị kinh tế cho bản thân, cho người sử dụng lao động và cho cộng đồng của họ. Thước đo gián tiếp phản ánh chất lượng lao động trong một ngành nghề giữa các vùng, quốc gia có thể là năng suất lao động, ví dụ ngành may mặc. Vậy khái niệm này là một chỉ tiêu tổng hợp, không chỉ phản ánh kiến thức, kỹ năng mà lực lượng lao động có được mà còn cả khả năng đưa các kiến thức, kỹ năng đó vào nâng cao năng suất lao động, cũng như năng lực thích ứng của đội ngũ lao động đối với những biến đổi nhanh chóng của thị trường lao động.

  • Active labour market policies – chính sách thị trường lao động chủ động: là các chính sách về việc làm, giáo dục, đào tạo, thông tin việc làm, tín dụng… cho đối tượng đang có nhu cầu tìm việc, thường là người thất nghiệp, thiếu việc làm và thậm chí là cả những người đang có nhu cầu tìm việc làm tốt hơn với mục tiêu nâng cao cơ hội tham gia hoặc tái hòa nhập vào thị trường lao động. Nguồn tài chính dành cho việc thực hiện các chính sách này thường được lấy từ thuế và từ đóng góp.

  • Labour market policy- chính sách thị trường lao động là hệ thống các quy định, giải pháp về cung, cầu lao động và kết nối cung-cầu lao động nhằm hỗ trợ việc điều chỉnh, thúc đẩy hiệu quả hoạt động của thị trường lao động. Thị trường lao động là thuật ngữ kinh tế học để chỉ sự trao đổi lao động trong một quốc gia, vùng, ngành, nghề. Chính sách thị trường lao động bao gồm các chính sách thị trường lao động chủ động và thụ động.

  • Passive labour market policies – chính sách thị trường lao động thụ động là các chính sách, quy định về việc chi trả trợ cấp thất nghiệp và các quyền lợi liên quan khác của người tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhằm tạm bù đắp thời thu nhập bị mất đi do mất việc (bảo hiểm thất nghiệp).

  • Outsourcing – Cho thuê lại lao động: là việc người lao động đã được tuyển dụng bởi doanh nghiệp được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động khác, chịu sự điều hành của người sử dụng lao động sau và vẫn duy trì quan hệ lao động với doanh nghiệp cho thuê lại lao động. Hoạt động cho thuê lại lao động là ngành nghề kinh doanh có điều kiện và chỉ được thực hiện đối với một số công việc nhất định. 

  • Structural change of labour – Chuyển dịch cơ cấu lao động: là sự thay đổi căn bản cấu trúc của một nền kinh tế trong dài hạn gây áp lực lên sự thay đổi về cầu lao động về số lượng, chất lượng và tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực kinh tế, cụ thể là giữa công nghiệp và dịch vụ, và nông nghiệp. Chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa sẽ thu hút lao động ra khỏi nông nghiệp, song cần bảo đảm được an toàn lương thực và ổn định xã hội. 

  • Labour composition – Cơ cấu lao động: là chỉ sự không đồng nhất trong lao động xã hội về trình độ kỹ năng, tuổi, giới tính. Sự thay đổi cơ cấu lao động có ảnh hưởng đến việc tính toán năng suất lao động xã hội. Trên thực tế, người ta dùng tiêu chí học vấn, năm kinh nghiệm để đánh giá cơ cấu lao động theo trình độ. Cơ cấu lao động là quan hệ về mặt lượng giữa các phần tử hoặc các bộ phận cấu thành tổng thể lao động xã hội đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân xét trong một không gian hoặc thời gian nhất định. 

  • Trade union, labour union – Công đoàn: là tổ chức chính trị – xã hội của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam … thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động (Luật công đoàn). Ở nhiều nước, về cơ bản công đoàn là hiệp hội của người lao động nhằm mục đích duy trì và cải thiện điều kiện làm việc của mình thông qua việc thỏa thuận tập thể với bên sử dụng lao động, và còn là tổ chức đi đầu trong các phong trào lao động như chấm dứt lao động trẻ em, giảm giờ công, tăng lương cho cả người lao động trong và ngoài công đoàn. Ở Đức, phí công đoàn là 1% tiền lương gộp, được dùng để trang trải bộ máy công đoàn, cũng như để trả phúc lợi như tiền công đình công.

  • Supply of labour – Cung lao động: Theo Bộ LĐTB-XH, Cung lao động là tập hợp những người có khả năng lao động đang có việc làm hay tạm thời không có việc làm và đang đi tìm việc. Những người có việc làm là cung tiềm năng vì có thể một lý do nào đó khiến họ xin thôi việc để tìm việc làm khác thích hợp hơn hoặc xin thôi hẳn, hoặc bị sa thải. Còn những người đang tìm việc là cung thực tế.  

  • Coercive labour, forced labour – Cưỡng bức lao động: là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc người khác lao động trái ý muốn của họ

  • Economically active population: Dân số hoạt động kinh tế: là cung lao động thực tế gồm những người đang cung ứng lao động trong các hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ nhất định trong một thời kỳ xác định. ILO

  • Golden age population – dân số vàng: là dân số trong thời kỳ mà tỷ lệ người trong độ tuổi lao động lớn gấp hai lần số người phụ thuộc. Thời kỳ dân số vàng ở Việt Nam có thể kéo dài từ năm 2010 đến năm 2040.  

  • Retraining – đào tạo lại là việc cung cấp kỹ năng, kiến thức nhằm hỗ trợ cá nhân bổ sung/tiếp cận với kỹ năng mới hoặc tăng cường kỹ năng đối với nghề mới nhằm nâng cao khả năng duy trì việc làm hoặc tiếp cận với các việc làm mới

  • Vocational training – đào tạo nghề là quá trình cung cấp có hệ thống các kỹ năng, kiến thức cho các cá nhân để họ đủ khả năng hành nghề, làm các việc hoặc một nhóm việc, nghề nhất định.  

  • On the job training – đào tạo tại chỗ: là việc cung cấp kỹ năng và kiến thức thông qua hướng dẫn và thực hành một công việc cụ thể tại nơi làm việc. Các chương trình đào tạo tại chỗ chủ yếu là vừa học vừa làm.  

  • Employment services – dịch vụ việc làm: là việc khớp những người tìm việc với các cơ hội việc làm, và là khâu trung gian quan trọng của một thị trường lao động vận hành tốt. Dịch vụ việc làm được cung cấp bởi chính phủ và tư nhân. Dịch vụ công về việc làm đưa ra các chính sách về thị trường lao động và thực thi chính sách như cung cấp thông tin thị trường, giúp tìm việc, quản lý trợ cấp thất nghiệp và các chương trình thị trường lao động.

  • COLA (COST OF LIVING ADJUSTMENT) – điều chỉnh mức sống theo lạm phát là việc điều chỉnh định kỳ mức trợ cấp xã hội và bảo hiểm xã hội theo chỉ số giá tiêu dùng (lạm phát)

  • Strike – Đình công: là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động. Việc đình công chỉ được tiến hành đối với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và chỉ khi Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải không thành thì sau 3 ngày có quyền tiến hành các thủ tục để đình công

  • Dialogue at workplace – Đối thoại tại nơi làm việc: là việc trao đổi trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động hoặc giữa đại diện tập thể lao động với người sử dụng lao động, bảo đảm việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Đối thoại tại nơi làm việc nhằm chia sẻ thông tin, tăng cường sự hiểu biết giữa các bên về tình hình SXKD, thực hiện hợp đồng lao động, điều kiện lao động, hoặc nội dung, yêu cầu phát sinh.  

  • Demographic ageing: Già hóa dân số là quá trình dịch chuyển cơ cấu tuổi của dân số theo hướng tăng số lượng và cơ cấu người già trong dân số. Già hoá xảy ra khi có tỷ lệ tương đối lớn của dân số là người cao tuổi (thường trên 10%), dẫn đến việc tăng chi tiêu xã hội như lương hưu, chăm sóc sức khoẻ và các hỗ trợ khác.  

  • Work permit for foreign employee in VietnamGiấy phép lao động cho người nước ngoài: là văn bản pháp lý chấp thuận cho người lao động ở nước ngoài được phép làm việc ở Việt Nam do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp. Người lao động là công dân nước ngoài phải xuất trình giấy phép lao động khi làm các thủ tục liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh và xuất trình theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thời hạn của giấy phép lao động tối đa là 02 năm. 

  • Job introduction – giới thiệu việc làm là hoạt động trong đó các tổ chức hoặc cá nhân có những thông tin về chỗ việc làm còn trống và giới thiệu cho người tìm việc đến địa chỉ của người sử dụng lao động để tìm hiểu và có thể đi đến thỏa thuận về việc làm; hoặc thông tin về người có nhu cầu làm việc cung cấp cho người sử dụng lao động tiếp xúc và có thể đi đến những thỏa thuận tuyển dụng.

  • Form of salary payment – Hình thức trả lương: Người sử dụng lao động có quyền lựa chọn hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán. Hình thức trả lương đã chọn phải được duy trì trong một thời gian nhất định; trường hợp thay đổi hình thức trả lương, thì người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động biết trước ít nhất 10 ngày

  • Mediator – Hòa giải viên: người do cơ quan quản lý nhà nước về lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cử để hoà giải tranh chấp lao động và tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề. Chính phủ quy định tiêu chuẩn, thẩm quyền bổ nhiệm hòa giải viên lao động. Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết. Ở Anh, hòa giải là việc dùng bên thứ ba không thiên vị giúp hai bên đi đến giải quyết bất đồng chứ không áp đặt.

  • Employment contract – Hợp đồng lao động: là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói. Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động, hoặc gián tiếp qua người được ủy quyền .  

  • Labour mobility support – Hỗ trợ di chuyển lao động: là hình thức hỗ trợ để thúc đẩy thị trường lao động đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế vùng. Những người lao động di chuyển tới các khu kinh tế mới sẽ nhận được hỗ trợ và các trợ cấp nhằm khuyến khích di cư và định cư.  

  • Early retirement – Hưu sớm là việc người lao động nghỉ làm việc trước tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật. Trong một số trường hợp, người lao động có thể chọn chế độ hưu chờ. Hưu chờ là chế độ người về hưu nghỉ làm việc trước tuổi nghỉ hưu theo quy định nên phải chờ đến khi đủ tuổi mới được hưởng chế độ.  .  

  • Pension – hưu trí là chế độ bảo hiểm xã hội đảm bảo thu nhập cho người lao động đến tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật. Theo Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam, khi lao động nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi, có 20 năm đóng bảo hiểm thì được nghỉ làm và được hưởng lương hưu. Mức lương hưu tháng của người lao động trong khoảng từ 55% đến 75% lương bình quân vốn được dùng để đóng bảo hiểm.

  • Labour discipline, operations manual – Kỷ luật lao động: là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động

  • Skill  – kỹ năng: là khả năng hoặc năng lực cụ thể làm tốt việc nào đó mà chủ yếu là nhờ có học và có hành. Trình độ kỹ năng được đo bằng học vấn chính thức, đào tạo tại chỗ, kinh nghiệm và khả năng tự nhiên

  • Overtime hours – Làm thêm giờ: là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.

  • Blue collar labour, manual labour – Lao động chân tay, công nhân cổ xanh: là hoạt động thực hiện công việc chủ yếu bằng chân tay, hay khả năng sinh công của cơ bắp. 

  • White collar labour  – Lao động chất xám, công nhân cổ trắng: là hoạt động thực hiện công việc chủ yếu bằng khả năng suy nghĩ, tính toán, sáng tạo của trí óc. Các việc làm có thể là việc quản lý, chuyên môn kỹ thuật, văn phòng, thương mại. 

  • Labour with disabilities – Lao động tàn tật: là lao động của người bị khiếm khuyết trong một hay một số chức năng tâm sinh lý của cơ thể làm suy giảm khả năng lao động nhưng vẫn còn sức lao động và có nhu cầu làm việc. Người lao động tàn tật có khả năng lao động thấp hơn mức bình thường, được ưu đãi làm những ngành nghề phù hợp và được hưởng các ưu đãi khác trong hoạt động lao động như trợ giúp về vốn , đào tạo v.v, và được miễn giảm các nghĩa vụ của người lao động.

  • Direct labour – Lao động trực tiếp là những người lao động vận hành máy móc thiết bị, tham gia trực tiếp vào sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ, chứ không tham gia vào tổ chức hay quản l‎ý. Lao động trực tiếp cũng có nghĩa là chi phí của việc thuê nhân công để tạo ra một sản phầm hoặc cung cấp một dịch vụ cụ thể nào đó. Với việc dùng máy móc mới và hiện đại, chi phí lao động trực tiếp đã giảm đi.  

  • Labour force – Lực lượng lao động: là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo qui định, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp (ILO). Trong kinh tế học, những người trong lực lượng lao động là những người cung cấp sức lao động cho thị trường lao động

  • Annual leave – Nghỉ hằng năm: người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động. Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.  

  • Sick leavenghỉ ốm là thời gian mà người lao động không có khả năng làm việc do ốm đau hoặc bệnh tật.  

  • Maternity leave – Nghỉ thai sản: Lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng. Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng. Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Hết thời gian nghỉ thai sản, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với người sử dụng lao động.

  • Elderly employee – Người lao động cao tuổi: là người tiếp tục lao động sau độ tuổi lao động theo luật định, cụ thể nam trên 60 và nữ trên 55 tuổi.

  • Underage labour, minor labour – Người lao động chưa thành niên: là người lao động dưới 18 tuổi – chưa trưởng thành cả về thể chất và tinh thần để có thể thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một công dân theo luật định. Lao động chưa thành niên bao gồm lao động từ 15 tuổi đến 18, và lao động trẻ em dưới 15 tuổi. Theo bộ luật lao động, lao động chưa thành niên chỉ được làm những công việc theo danh mục do Liên Bộ Lao động –Thươngh binh –Xã hội, Y tế quy định.

  • Unemployed person – người thất nghiệp bao gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên mà trong tuần xem xét không có việc làm nhưng sẵn sàng làm việc và đã tích cực đi tìm việc làm

  • Human resources, human capital, manpower – Nguồn nhân lực: Là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ nhất định của một Quốc gia. Nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế- xã hội. Số lượng nguồn nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ phát triển. Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực, trình độ , kiến thức, tay nghề , tác phong nghề nghiệp; cơ cấu nguồn nhân lực về tuổi tác, giới tính, thiên hướng ngành nghề , phân bổ theo lãnh thổ , khu vực thành thị nông thôn… Các thuật ngữ tương đương là Nguồn lực con người, Vốn con người, Nguồn lực lao động và Nguồn lao động với cũng một nghĩa chung chỉ nguồn lực con người cùng với các nguồn lực khác là vốn (tư bản) và công nghệ cùng tham gia vào hoạt động tạo ra sản phẩm và dịch vụ cho xã hội. 

  • Internal regulations for employees, works rules, disciplinary rules – Nội quy lao động: người sử dụng lao động sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải có nội quy lao động bằng văn bản với nội dung chủ yếu về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; trật tự tại nơi làm việc, an toàn lao động, vệ sinh lao động ở nơi làm việc; việc bảo vệ tài sản và bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động. Nội quy lao động phải được thông báo đến người lao động và những nội dung chính phải được niêm yết ở những nơi cần thiết tại nơi làm việc. 

  • Labour relations, industrial relations, employment relations – Quan hệ lao động: là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động. Quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau. 

  • State labour administration – Quản lý Nhà nước về lao động: là những hoạt động quản lý công của Nhà nước trong lĩnh vực chính sách lao động quốc gia mà chủ yếu bao gồm việc ban hành chính sách liên quan đến qui hoạch, phân bố và sử dụng lao động toàn xã hội dựa vào cung cầu lao động, ban hành văn bản pháp qui về lao động; ban hành chính sách lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội, chính sách về quan hệ lao động; tổ chức thực hiện các chương trình quốc gia về việc làm, di dân, lao động nước ngoài; tổ chức nghiên cứu khoa học về lao động xã hội, thống kê và thông tin; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật lao động, giải quyết tranh chấp.

  • National fund for employments development – Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm: là nguồn vốn được hình thành với mục đích cho vay vốn nhằm góp phần tạo việc làm mới và tăng thêm việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, bảo đảm việc làm cho người có nhu cầu làm việc, tạo ra sản phẩm cho xã hội và có thu nhập phục vụ cho người lao động. Quỹ được hình thành từ nguồn ngân sách quốc gia và từ trợ giúp của các nước và tổ chức quốc tế cho mục đích tạo việc làm. 

  • Employment transactions by employment agency – Số giao dịch qua các trung tâm dịch vụ việc làm: là số khách hàng tìm đến với cơ sở dịch vụ việc làm (được đo trong những khoảng thời gian nhất định) để từ đó trung tâm dịch vụ việc làm tiến hành hoạt động hỗ trợ (trực tiếp/gián tiếp) can thiệp vào thị trường lao động

  • Successful transactions facilitated by employment agency – Số giao dịch thành công qua các trung tâm dịch vụ việc làm: là số khách hàng tìm đến với cơ sở dịch vụ việc làm trong những khoảng thời gian nhất định, được cơ sở DVVL đáp ứng yêu cầu, mục đích của khách hàng

  • Populationg explosion – sự bùng nổ dân số là thuật ngữ chỉ sự gia tăng dân số đột biến thường xảy ra ở các nước đang phát triển

  • Market failure – sự thất bại của thị trường là tình trạng thị trường không phân bố hiệu quả các nguồn lực để thỏa mãn tối đa nhu cầu của người tiêu dùng. Có bốn dạng thất bại thị trường chính, gồm: hàng hóa công; kiểm soát thị trường, ảnh hưởng ngoại lai và thông tin không hoàn hảo. Trong mọi trường hợp, nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì thị trường không điều phối hiệu quả các nguồn lực cho sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hóa.  

  • Substituition effect- Tác động thay thế (trong thị trường lao động): Xảy ra khi một biện pháp chính sách thị trường lao động tác động tới một nhóm đối tượng, song lại gây ra thiệt hại cho các đối tượng khác. Thí dụ như tác động của việc hỗ trợ đào tạo nghề cho người thất nghiệp dài hạn có được việc làm mà lẽ ra việc này được giao cho người thất nghiệp ngắn hạn hoặc người mới bước vào thị trường lao động.  

  • Occupational accident – Tai nạn lao động: là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động, kể cả trong thời gian nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tấm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, chuẩn bị và kết thúc công việc tại nơi làm việc. Tai nạn lao động được phân loại thành tai nạn chết người, tai nạn nặng và nhẹ. 

  • Structural unemployment  – Thất nghiệp cơ cấu là tình trạng không phù hợp giữa yêu cầu của việc làm còn trống người làm và người thất nghiệp mà nguyên nhân là do người thất nghiệp không có kỹ năng phù hợp hoặc không có mặt ở đúng địa bàn đang cần lao động. Thất nghiệp cơ cấu có thể là do sự đổi thay về công nghệ hoặc cầu về hàng hóa dẫn đến dư thừa lao động.  

  • Labour market, employment market: Thị trường lao động: là thị trường danh nghĩa ở một địa phương hay quốc gia mà ở đó người lao động tìm kiếm việc làm và người sử dụng lao động tìm kiếm nhân công muốn làm việc dựa trên việc trao đổi thông tin giữa các bên về mức tiền lương, điều kiện làm việc, cách tuyển chọn, nơi làm việc. Các thông tin liên quan cần được tập hợp, xử lý nhằm xác định xu hướng thị trường, các vấn đề, qua đó đưa ra khuyến nghị chính sách thị trường lao động phù hợp. ILO thiết lập cơ sở dữ liệu KILM gồm 18 tiêu chí nhằm giám sát và đánh giá thực trạng thị trường lao động ở cấp quốc gia và khu vực.  

  • Labour dispute – Tranh chấp lao động: là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động. Tranh chấp lao động có thể dẫn tới xung đột như đình công. Xung đột có thể được giải quyết thông qua hòa giải hay trọng tài lao động. Xem thêm: quan hệ lao động, hòa giải, trung gian hòa giải, trọng tài lao động. 

  • Collective labour dispute over interests– Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích: là tranh chấp lao động phát sinh từ việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật về lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động hoặc các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động.  

  • Collective labour dispute over rights – Tranh chấp lao động tập thể về quyền: là tranh chấp giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động phát sinh từ việc giải thích và thực hiện khác nhau quy định của pháp luật về lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thoả thuận hợp pháp khác.  

  • Redundancy pay – Trợ cấp mất việc làm: Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo luật định, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm. 

  • Severance pay – Trợ cấp thôi việc: là khoản tiền trả một lần mà người người sử dụng lao động trả cho người lao động khi chấm dứt làm việc trong các trường hợp luật định (Điều 36, Luật lao động 2012). Các khoản trợ cấp thôi việc được tính toán dựa trên thời gian công tác và mức tiền lương hưởng trước khi thôi việc.  

  • Labour arbitration – Trọng tài lao động: Là một hình thức can thiệp của bên thứ ba vào giải quyết tranh chấp trong đó trọng tài viên là người không thiên vị đứng ra quyết định một vấn đề mà các bên không thỏa thuận được. Khác với hòa giải, phán quyết của trọng tài là chung thẩm. Ở Anh, trọng tài được dùng cho cả tranh chấp quyền và lợi ích. Tuy nhiên, phán quyết của trọng tài không có hiệu lực pháp lý, mà chỉ có tính ràng buộc danh dự do các bên thường thống nhất chấp nhận phán quyết trọng tài trước khi giải quyết. Ở Việt Nam, Hội đồng trọng tài lao động được thành lập ở cấp tỉnh thực hiện hoà giải các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích; tranh chấp lao động tập thể xảy ra tại các đơn vị sử dụng lao động không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định. Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về lao động. Về cơ bản chính quyền tham gia làm trung gian trọng tài giải quyết tranh chấp tập thể. Trọng tài lao động: Là một hình thức can thiệp của bên thứ ba vào giải quyết tranh chấp trong đó trọng tài viên là người không thiên vị đứng ra quyết định một vấn đề mà các bên không thỏa thuận được. Khác với hòa giải, phán quyết của trọng tài là chung thẩm. Ở Anh, trọng tài được dùng cho cả tranh chấp quyền và lợi ích. Tuy nhiên, phán quyết của trọng tài không có hiệu lực pháp lý, mà chỉ có tính ràng buộc danh dự do các bên thường thống nhất chấp nhận phán quyết trọng tài trước khi giải quyết. Ở Việt Nam, Hội đồng trọng tài lao động được thành lập ở cấp tỉnh thực hiện hoà giải các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích; tranh chấp lao động tập thể xảy ra tại các đơn vị sử dụng lao động không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định. Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về lao động. Về cơ bản chính quyền tham gia làm trung gian trọng tài giải quyết tranh chấp tập thể. 

  • Decent work – Việc làm tốt (sáng kiến của ILO): bao hàm các cơ hội việc làm với thu nhập thỏa đáng, môi trường làm việc an toàn và an sinh xã hội cho gia đình; cơ hội phát triển bản thân và hòa nhập xã hội tốt hơn; mang đến quyền tự do được bày tỏ những mối quan tâm; quyền được tổ chức và tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng đến đời sống; và sự bình đẳng giới về cơ hội và đối xử.  

[CNS 14] CON KHÔNG NGỐC, CON CHỈ THÔNG MINH THEO MỘT CÁCH KHÁC

“Con không ngốc, con chỉ thông minh theo một cách khác” tường thuật lại quá trình trưởng thành của tác giả – diễn giả Lư Tô Vỹ: năm 8 tuổi, ông mắc bệnh viêm não Nhật Bản, hậu quả là bị bại não. Căn bệnh đã khiến cho chỉ số IQ của ông chỉ có 70, lớp 5 mới học chữ, trải qua 7 năm ôn luyện mới thi đỗ Đại học nhưng cuối cùng ông đạt được thành tích đáng nể phục trong học tập và sự nghiệp: tốt nghiệp vươn lên trong top 3 sinh viên có thành tích học tập xuất sắc của Học viện Cảnh sát, hiện là tác giả của hơn 50 đầu sách về giáo dục con cái tại Đài Loan, sở hữu 500 phát minh, là diễn giả của 5000 buổi diễn giảng, chuyên gia nổi tiếng tại Đài Loan trong lĩnh vực khai thác và phát triển năng lực tiềm ẩn. Mình đã thực sự rất xúc động khi đọc được từng thước phim quay chậm về cuộc đời của tác giả. Ẩn sau câu chuyện, mình cảm nhận sâu sắc về tình cảm thiêng liêng cao quý: tình cha mẹ, tình anh chị em trong gia đình và mình được truyền thêm động lực rất lớn trong quá trình tự rèn luyện, học tập phát triển tiềm năng của bản thân. “Con không ngốc, con chỉ thông minh theo một cách khác” khẳng định một chân lý rằng mỗi người đều có khả năng tiềm ẩn, không phải bạn không có đủ tiềm lực để đạt được mục tiêu, trở thành con người bạn mong muốn mà chỉ bởi vì bạn chưa dành thời gian để hiểu về bản thân, không đủ kỷ luật với bản thân, quyết tâm của bản thân chưa đủ lớn. Qua cuốn sách, tác giả cũng gợi mở cho mỗi người đọc hãy “phát hiện chính mình”. Hiểu được chính mình thực sự rất quan trọng bởi “Hiểu được chính mình” sẽ giúp bạn tìm lại được niềm tin và giá trị của chính mình ngay từ những cảm xúc thất bại trong cuộc sống, công việc. Bạn không buộc phải đeo mặt nạ để sống, bạn có thể thực sự tận hưởng sự tĩnh lặng, nhẹ nhàng, tự tại của cuộc sống mình muốn, tất cả đều nằm ở việc bạn buộc phải biết được chính mình. Nếu bạn không hiểu được khả năng của bản thân, mục tiêu của bản thân, mong muốn của bản thân thì làm sao bạn biết nên làm gì đúng trong lúc này, ngày mai, ngày sau??. Thành công đến từ sự nhìn nhận rõ ràng của chúng ta, chứ không đến từ nỗ lực ép bản thân phải đạt được ❤ 🙂

[GNCS 4] HIỂU VỀ NGŨ UẨN

Tôn chỉ của đạo Phật là diệt khổ ngay trên cõi đời này chứ không trốn đời bởi vì khi ta quán chiếu để thấy rằng cuộc đời là vô thường, là vô ngã, là khổ não, là tịch tịnh thì ở đâu cũng thanh tịnh, làm việc gì cũng an vui tự tại. Vì vậy ta không còn bám vào ngũ uẩn và thủ uẩn để đi đến diệt hết nỗi khổ trên đời. Nắm vững giáo lý Ngũ uẩn chính là bài học diệt khổ để sống an vui tự tại ngay trên cõi đời này. Bài viết được mình tóm tắt, tổng hợp lại từ các tài liệu trên website: http://phatgiao.org.vn/ 🙂

I. Ngũ uẩn là gì?

Theo tinh thần Phật giáo, con người được sinh ra là do sự hòa hợp của nhiều nhân duyên, của tất cả những nghiệp duyên có từ trong những đời quá khứ từ trước mà tạo ra trong kiếp này. Do vậy thân con người là sự kết hợp, tạo thành của ngũ uẩn biểu thị thành hai phần: phần thân xác (gọi là sắc) và phần tâm linh (gọi là danh), nên được gọi là danh sắc (danh sắc là một mắt xích trong 12 mắt xích, nói trong giáo lý Mười hai nhân duyên). Phần sắc tức là phần vật chất, là phần thân xác của con người, có hình dáng vật lý, gọi là sắc uẩn. Phần danh tức là phần tinh thần hay tâm linh không có hình sắc bao gồm thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Vậy ngũ uẩn là một danh từ dùng chỉ cho con người được biểu thị bằng năm thành phần là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Con người phải có đầy đủ cả vật chất và tinh thần hay còn gọi là tâm linh, tâm lý, tâm thức, nghĩa là phải có đầy đủ năm uẩn xếp theo thứ tự : sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nói một cách ngắn gọn Ngũ uẩn chỉ cho con người bao gồm Sắc là thể xác, Thọ là cảm giác, tình cảm, Tưởng là tri giác, lý trí, Hành là ý chí quyết đinh, Thức là nhận thức.
1. Sắc uẩn
Sắc uẩn tức là phần vật chất của thân con người tiếp xúc với ngoại cảnh.Trong sắc uẩn có các căn và các trần tương ứng. Các căn gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tương ứng với sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Trong đó:

– Sắc trần : cảnh sắc mà mắt nhìn thấy bao gồm tất cả những vật thể có hình dạng từ cái to nhất đến cái nhỏ nhất.
– Thanh trần: âm thanh mà tai nghe được gồm tiếng nói, tiếng cười, tiếng khóc v.v…của con người ; tiếng động của trời đất vũ trụ như tiếng sấm, tiếng gió rít, tiếng sóng vỗ v.v… do thiên nhiên gây ra ; âm thanh của  các vật thể có tác động của con người như tiếng chuông, tiếng trống, tiếng mõ v.v…do con người tác động mới có.
– Hương trần: mùi do mũi ngửi được bao gồm mùi thơm, hôi thối v.v…do con người và thiên nhiên gây ra.
– Vị trần: mùi vị do lưỡi nếm được như cay, đắng, ngọt, bùi v.v…
– Xúc trần: cảm xúc do thân biết được như đói, no, khát, nóng, lạnh, mềm, rắn, ngắn, dài, to, nhỏ v.v…
– Pháp trần: cảnh biết do ý thức nhận được, nghĩa là tất cả những gì là đối tượng của ý, của nhận thức đều gọi là pháp.
2. Thọ uẩn
Thọ uẩn là sự thụ nhận sáu trần bởi sáu căn. Sự thụ nhận hay cảm nhận đó có được do từng căn trong sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc tương ứng với từng trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). thiệt căn thụ nhận vị trần, thân căn thụ nhận xúc trần, ý căn thụ nhận pháp trần. Ví dụ:

– Nhãn căn thụ nhận sắc trần: Khi mắt nhìn một bông hoa đẹp thì cảm nhận được màu sắc tươi sáng, vẻ thanh lịch của bông hoa đó làm cho ta vui vẻ, khoan khoái. Khi nhìn một dòng sông rộng, nước chảy xiết, đỏ màu phủ sa làm cho ta thấy lo ngại khi phải bơi qua vì sông rộng và nước chảy xiết. Khi nhìn thấy một tà áo dài tha thướt làm cho ta cảm nhận thấy cái duyên dáng, cái thanh tao của tà áo hay của người mặc áo. Vậy do mắt (nhãn căn) tiếp xúc với cảnh vật (sắc trần) mới có thọ uẩn.
– Nhĩ căn thụ nhận thanh trần: Khi tai nghe một bài thuyết trình của một diễn giả danh tiếng thì cảm nhận được cái hay, cái ý nghĩa của từng lời nói làm cho ta xúc động, ta vui hay thích. Nhưng nếu tai nghe những lời khiếm nhã của một kẻ nào đó thì lòng cảm thấy buồn bực. Tai nghe một bản nhạc hay thì cảm nhận được cái vui, cái buồn của bản nhạc đó khiến cho tâm hồn ta rung động. Vậy do tai (nhĩ căn) tiếp xúc với âm thanh (thanh trần) mới có thọ uẩn.
– Tỷ căn thụ nhận hương trần: Khi ta bước vào chính điện cùa một ngôi chùa, mũi ta ngửi thấy mùi hương bay thơm một cách nhẹ nhàng thoang thoảng ta cảm nhận thấy tâm hồn thư thái thanh tịnh, hoặc khi mũi ta ngửi những làn hương thơm ngào ngạt khi ta đứng trước một vườn hoa, ta cảm thấy vui, nhưng khi ta đi qua một bãi rác bốc mùi hôi thối thì ta cảm thấy khó chịu. Vậy do mũi (tỷ căn) tiếp xúc với mùi hương (hương trần) mới có thọ uẩn.
– Thiệt căn thụ nhận vị trần: Khi lưỡi ta nếm được món ăn ngon, ta cảm nhận được vị thơm ngon làm cho ta vui thích, sung sướng, hoặc khi lưỡi ta đụng phải vị cay của ớt thì ta cảm nhận vị cay đó làm ta khó chịu. Vậy do lưỡi (thiệt căn) tiếp xúc với mùi vị (vị trần) mới sinh ra thọ uẩn.
– Thân căn thụ nhận xúc trần: Khi tay nhận món quà của người trao tặng thì cảm thấy vui. Khi tay ta sờ vào một chiếc áo lông ta cảm thấy sự mềm dịu làm ta vui thích hoặc tay ta sờ phải cái gai thì cảm nhận thấy đau. Vậy do tay (thân căn) tiếp xúc với vật thể (xúc trần) mới có thọ uẩn v.v… 

=> Tất cả những cái đó là sự thụ nhận tức là thọ uẩn. Bản thân các căn riêng biệt (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà không có sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) thì không thể có thọ nhận được, tức không có thọ uẩn. Như vậy thọ có được là do có sự tiếp xúc giữa các căn và các trần tương ứng.

Trong Phật giáo, thọ được chia làm ba loại: lạc thọ, khổ thọ và vô ký thọ.
– Lạc thọ là sự cảm nhận được niềm vui, cái sung sướng ở thế gian do sự tiếp xúc mà ra.
– Khổ thọ là cảm nhận nỗi buồn, sự đau khổ hay bất hạnh do cuộc đời đưa đến.
– Xả thọ hay vô ký thọ là không vui cũng chẳng buồn. Lúc nào cũng trước sau như một. Ví như mắt thấy đối tượng nào đó mà lòng vẫn dửng dưng, chẳng vui mà cũng chẳng buồn.

3. Tưởng uẩn
Tưởng uẩn là sự nhận biết các tri giác như màu sắc, âm thanh, mùi vị…Sau  khi đã có thọ uẩn để thấy được các cảnh khổ vui, xấu đẹp và sau đó bắt đầu so sánh phân biệt. Đó chính là giai đoạn tưởng uẩn. Nếu không có sự so sánh, phân biệt của tưởng uẩn thì tất cả các pháp đều bình đẳng như nhau. Vì thế cần phải có tưởng uẩn mới phân biệt tất cả các sự vật hiện tượng. Đó là tác dụng của tưởng uẩn. Ví dụ khi người ta nhìn một cành hoa hồng, cành hoa đó, màu sắc đó là sự thọ nhận tức thọ uẩn. Nhưng để phân biệt so sánh với các loại hoa hồng khác hay với các loài hoa khác thì phải cần đến tưởng uẩn, nó được lưu lại trong tâm.

4. Hành uẩn
Hành có nghĩa là tạo tác, là thực hiện bằng lời nói, bằng việc làm, bằng suy nghĩ điều gì đó, tức là thực hiện tạo tác bằng thân, khẩu, ý, tất cả đều gọi là Hành. Hành uẩn là những hoạt động tâm lý sau khi có tưởng uẩn. Sau khi so sánh phân biệt (qua giai đoạn tưởng uẩn), thì ý niệm (tư duy, suy nghĩ) tức là tưởng uẩn bắt đầu thực hiện ý đồ nên đã sai khiến thân (chân tay) và khẩu (miệng nói) thực hành những gì ý muốn. Việc thực hiện này chính là hành trong giai đoạn hành uẩn. Vì thế ý nghiệp là nhân, còn thân nghiệp  khẩu nghiệp là kết quả của nó. Vậy hành uẩn là việc thực hiện những hành động tạo tác gây ra các nghiệp thiện và ác trên đời.

5. Thức uẩn
Thức tức là sự nhận thức, nhận biết được cái gì đó. Vì vậy, thức uẩn là cái được hình thành do sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà tạo nên. Đó là sáu thức. Chính sáu thức là cái giúp cho người ta phân biệt được màu sắc, âm thanh, mùi vị… Ngoài ra, thức uẩn còn chính là cái kho chứa những ý thức, tư duy, suy nghĩ, kỷ niệm, các chủng tử, ký ức…giúp cho việc thực hành hành uẩn, tạo ra nghiệp lực. Thức bao gồm tám loại khác nhau gồm năm thức đầu tiên, còn gọi là Tiền ngũ thức. Đó là nhãn thức (cái hiểu biết của mắt), nhĩ thức (cái biết của tai), tỷ thức (cái biết của mũi), thiệt thức (cái biết của lưỡi), thân thức (cái biết của thân), rồi đến Ý thức (cái biết của ý là thức thứ sáu), Mạc na thức (thức thứ bảy) và A lại gia thức (thức thứ tám) hay còn gọi là Tàng thức là cái kho chứa mọi hiểu biết, kinh nghiệm, tư duy, chủng tử, ký ức, thói quen, nghiệp lực, nó quyết định cuộc sống kế tiếp của con người.

II. Nhiệm vụ của từng uẩn trong Ngũ uẩn

1. Nhiệm vụ của sắc uẩn: Sắc uẩn có nhiệm vụ tạo sự tiếp xúc giữa con người với cảnh vật bên ngoài, nghĩa là căn tiếp xúc với đối tượng tương ứng của nó là trần.
2. Nhiệm vụ của thọ uẩn: Thọ uẩn có nhiệm vụ cảm nhận những cảm giác từ sắc uẩn, nhưng những cảm nhận đó là cái biết chưa phân biệt được, vì vậy nó phải nhờ vào tưởng uẩn.
3. Nhiệm vụ của tưởng uẩn: Một khi đã có thọ uẩn, tức là đã có cảm giác nhưng chưa phân biệt rõ rệt được những cảm giác đó như thế nào thì những cảm giác và cái biết đó được đưa thẳng vào hệ thống trung ương thần kinh não bộ tức là bộ óc, từ đó tưởng uẩn mới phân biệt và so sánh rõ cái hay, cái dở, cái vui, cái buồn, cái đẹp cái xấu. Nhiệm vụ của tưởng uẩn là so sánh, phân biệt những thọ uẩn. Tưởng uẩn là cái biết có so sánh phân biệt.
4. Nhiệm vụ của hành uẩn: Nhờ tưởng uẩn làm nhiệm vụ so sánh, phân biệt dẫn đến tư tưởng thích hay không thích, vui hay buồn, muốn hay không muốn thì tư tưởng biến thành ý để sai khiến thân và khẩu thực hành những gì nó muốn, đó là nhiệm vụ của hành uẩn. Hành uẩn tạo ra nghiệp do ý nghiệp sai khiến thân nghiệp và khẩu nghiệp thực hiện. Những nghiệp đó dẫn dắt con người sinh tử luân hồi trong các kiếp và khắp các cõi.
5. Nhiệm vụ của thức uẩn: Nhưng khi tưởng uẩn tạo ra sự so sánh phân biệt thì tự nó không thể làm được mà phải nhờ vào thức uẩn. Vì nhờ có thức uẩn chứa đựng những cái biết, những kinh nghiệm, ký ức, kỷ niệm, các chủng tử thiện và ác nằm trong tàng thức, thì tưởng uẩn mới có cái để so sánh phân biệt, từ đó mới dẫn đến việc thực hiện những gì nó muốn, mới đưa đến hành uẩn mà thực hiện nghiệp lực được.

III. Ngũ uẩn trong cuộc sống con người

Trong buổi đầu thuyết giảng tại Vườn Lộc Uyển, Đức Phật đã thuyết về Tứ Diệu đế như sau: “…Này các tỷ kheo, đây chính là Khổ thánh đế: sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ; thân ái biệt li là khổ, cầu không được là khổ và chấp thủ năm uẩn là khổ…” .

Trong tám cái khổ đó, cái khổ cuối cùng là Ngũ ấm xí thạnh khổ tức là cái khổ do hiện hữu năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), do sự phát huy mạnh mẽ của năm uẩn, chính là cái khổ do chấp thủ vào ngũ uẩn gây ra.

Đạo Phật cho rằng khổ đau của con người có nguồn gốc sâu xa từ trong tâm thức. Các bản kinh của Phật giáo khi đề cập đến nguyên nhân khổ đau của con người đều nói đó chính là lòng tham. Do tham ái mà con người ta cố bám víu vào các đối tượng của tham ái, sự khao khát về dục lạc sẽ dẫn đến nỗi khổ niềm đau kéo dài liên miên vì lòng khao khát tham ái không bao giờ dừng, không bao giờ thỏa mãn. Phật giáo cũng chỉ ra rằng nguyên nhân sâu xa hơn và là nguyên nhân căn bản đó là vô minh, là si mê, vì không thấy rõ bản chất của sự vật và hiện tượng đều do duyên sinh, đều vô ngã và vô thường. Vì thế cho nên con người ta chỉ thấy “cái tôi” và “cái của tôi” là quan trọng nhất. Rõ ràng nếu không chấp ngã và dục vọng, không bị vị kỷ hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm con người thì cuộc đời đầy an lạc và hạnh phúc. Vì vậy muốn nhổ cái gốc Vô minh gây đau khổ cho chúng sinh thì phải nhổ tận gốc cái chấp ngã với việc áp dụng giáo lý Mười hai nhân duyên  Ngũ uẩn.

Chính vì Ngũ uẩn thường ngăn che tâm trí của con người như bóng mây thường che ánh nắng mặt trời, nên những dục vọng, những ham muốn và lòng tham của con người luôn luôn phát triển làm cho con người mê muội không nhận thấy cái Ta thật tính, tức cái tính Phật sẵn có trong mỗi con người. Và khi càng mê muội, càng theo đuổi dục vọng nên con người càng bị lấn sâu vào khổ đau và tội lỗi. Một số người do nhận thức cho rằng thân ngũ uẩn là gánh nặng làm cho đau khổ, họ có tư tưởng thoát ly thân ngũ uẩn để tìm đến Niết bàn an vui. Đây là nhận thức sai lầm lớn bởi vì cần thấy rằng thân tứ đại tuy mong manh, vô thường và do ngũ uẩn tác động làm cho đau khổ, nhưng đoạn diệt thân ngũ uẩn là cả một vấn đề vô cùng nguy hiểm, khi con người ta chưa đi đến đắc đạo.

Như trên đã nói một trong tám nỗi khổ mà Đức Phật đã tuyên giảng trong Tứ Diệu đế là Ngũ uẩn xí thạnh khổ. Hay nói khác đi để cho các uẩn hưng thịnh là khổ, cố níu vào thủ uẩn là khổ tức là chấp thủ ngũ uẩn là khổ. Thế thì thực hành Ngũ uẩn trong thực tế là gì? Đó là từ sự hiểu biết được Ngũ uẩn là gánh nặng, mà cái gánh nặng đó chính là sự bám giữ các thủ uẩn: cái Ta, cái của Ta, là sự chấp thủ uẩn mà gây ra đau khổ cho con người nên phải tìm diệt cái nguyên nhân gây ra nỗi khổ đó.

Ta biết nguyên nhân gây ra tất cả những nỗi khổ đau của cuộc sống là do vô minh, là đều do ý thức, tư tưởng mà ra. Vì thế đức Phật dạy chúng sinh phải biết tu tập để chuyển  đổi tất cả ý thức tư tưởng trở thành trí tuệ, mà có trí tuệ thì mới có thể chấm dứt khổ đau đạt đến thân tâm an lạc, đến giải thoát, Niết bàn. Vì thế tất cả mọi phiền não đau khổ trên thế gian này đều phát nguồn từ ý thức, tư tưởng mà ra. Mà khi đã tu tập để tư tưởng trở thành trí tuệ, đã quán chiếu được để thấy cuộc đời là vô thường, vô ngã, tịch tịnh thì đâu đâu cũng thanh tịnh, lúc nào cũng an vui tự tại. Tu tuệ là phương tiện cứu cánh để chứng đắc. Một khi trí tuệ đã thấu suốt thì biết đời là vô thường, là khổ nhưng không trốn tránh cái khổ mà dùng trí tuệ để tận diệt chúng để có an vui tự tại.

[HỘI THẢO 1] TẠO ĐỘT PHÁ TRONG SỰ NGHIỆP VÀ CUỘC SỐNG

Chiều 16/01/ 2016, trong cái mưa lạnh của ngày đông, vừa kết thúc giờ làm buổi sáng thứ Bảy tại công ty, mình vội vàng đi đến tham dự hội thảo “Tạo đột phá trong sự nghiệp và cuộc sống” do anh Trần Đăng Khoa chia sẻ. Sau buổi hội thảo đầy ắp tiếng cười bởi cách chia sẻ khá hài hước của anh Khoa, mình có ghi lại một vài điểm:

Thứ nhất, cơ hội thường xuất hiện dưới dạng khó khăn, thử thách. Cơ hội và khó khăn như 2 mặt của một đồng xu vậy, trong khó khăn luôn xuất hiện những cơ hội và ngược lại trong những cơ hội luôn tiềm ẩn những khó khăn. Để nắm bắt được những cơ hội, bạn cần SẴN SÀNG về nhận thức, SẴN SÀNG về kiến thức (nhiều kiến thức bạn học không cần ngay nhưng khi cần lại không kịp học do đó hãy trau dồi hàng ngày), SẴN SÀNG về nguồn lực. Nguồn lực bao gồm nhóm nguồn lực bên trong và bên ngoài:
– Nguồn lực bên trong bao gồm: thứ nhất – sự tự tin – khả năng làm chủ bản thân, chấp nhận rủi ro. Tuy nhiên bạn cũng cần phân biệt với “liều lĩnh”. Liều lĩnh là khi bạn không hề có sự hiểu biết, kiến thức mà chỉ thực hiện hành động. Còn sự tự tin đề cập ở đây là bạn có kiến thức, hiểu biết và dám hành động, thể hiện; thứ hai – nghị lực bản thân; thứ ba – lòng kiên định.
– Nguồn lực bên ngoài bao gồm: thứ nhất – mối quan hệ, thứ hai – uy tín, thứ ba – tiền. Về ngắn hạn, trong khoảnh khắc tiền có thể là thứ quan trọng nhưng xét về dài hạn thì các nguồn lực trên mới thật sự quan trọng. Khi bạn có nhiều tiền nhưng không có hiểu biết, không có kiến thức để sử dụng thì nó cũng chỉ như cát bụi mà thôi.

Và Vòng tròn tạo ra thành quả sẽ là: Sẵn sàng => Cơ hội => Hành động => Thành quả

Bước 1: Bạn hãy xác định thành quả mình hướng tới

Bước 2: Để đạt được thành quả cần cơ hội gì?

Bước 3: Nếu cơ hội đó xảy ra bạn đã sẵn sàng chưa? Nếu chưa….

Bước 4: Nếu chưa bạn phải chuẩn bị gì cho cơ hội đó?

Bước 5: Khi đã sẵn sàng mà cơ hội không đến bạn có thể làm gì để tạo cơ hội cho mình?

Có một điểm bạn cần hiểu rõ “Sẵn sàng” ở đây không phải đợi đến mức độ 100 % mới dám hành động hoặc mới chỉ có 10 % đã hành động. % lý tưởng từ Sẵn sàng để nắm bắt cơ hội được anh Khoa chia sẻ là từ 70 – 80 %.
Thành công bạn cũng đừng nghĩ gì quá to lớn. Thành công là bạn hơn chính bản thân bạn qua từng ngày, là bạn đi bao xa từ điểm xuất phát. Có thể những gì anh Khoa chia sẻ ngày hôm nay mình đã từng biết nhưng điều quan trọng hơn mình thu được từ buổi hội thảo là có thêm động lực để rèn luyện bản thân, kiến tạo cuộc đời có ý nghĩa hơn cho bản thân mình mỗi ngày. “Each day I live.I want to be. A day to give the best of me. I’m only one but not alone.My finest day is yet unknown. I broke my heart, fought every gain to taste the sweet. I face the pain. I rise and fall. Yet through it all. This much remains. I want one moment in time. When I’m more than I thought I could be. When all of my dreams are a heartbeat away and the answers are all up to me. Give me one moment in time when I’m racing with destiny. Then in that one moment of time I will feel, I will feel eternity”

Thân cảm ơn tới anh Khoa nói riêng và TGM nói chung <3.

[CNS 13] TƯ DUY TÍCH CỰC – BẠN CHÍNH LÀ NHỮNG GÌ BẠN NGHĨ

Theo thuyết Ngũ uẩn trong Phật giáo: Bản ngã là nguồn gốc của vô minh. Do đó, suy nghĩ chi phối toàn bộ đến hành động của chúng ta trong cuộc sống. Suy nghĩ tích cực là một kỹ năng thực sự cần thiết cho mọi người. Bắt đầu một năm mới, mình đọc và viết lại một vài lời khuyên từ cuốn sách này và sẽ luôn review lại hàng ngày để rèn luyện suy nghĩ tích cực: 

1. Why?
– Xét về mặt sinh học, tư duy tích cực sẽ hoạt hóa các chức năng sinh lý khác như hệ nội tiết, hệ miễn dịch và nhất là hoạt hóa các chất dẫn truyền thần kinh. Đến lượt mình, các tác nhân nội tiết, thần kinh nói trên lại hoạt hóa toàn bộ các chức năng khác, kể cả hoạt động cơ bắp và hoạt động thần kinh trung ương trong đó có hoạt động trí não. Nhờ vậy, con người trở nên vui vẻ hơn, sảng khoái hơn, yêu đời, tự tin, sáng suốt và dễ dàng thực hiện những hành vi tích cực, có lợi cho bản thân và cho mọi người. Trái lại, tư duy tiêu cực chỉ làm tiêu hao năng lượng, gây ức chế các chức năng sinh lý khác như suy giảm các chất nội tiết, suy giảm chức năng của hệ miễn dịch (dễ bị lây bệnh/ung thư), các chất dẫn truyền bị ách tắc, dẫn tới làm tê liệt đời sống cảm xúc, trí tuệ, vận động, có thể dẫn đến kết cục bi thảm nhất là tự hủy hoại bản thân (tự sát) và làm tổn hại người khác (cuồng sát).

– Về mặt tâm lý, tư duy tích cực là lòng tự tin giúp cá nhân khám phá ra tất cả các tiềm năng vô tận vốn ẩn chứa trong sâu thẳm mỗi con người. Nhờ năng lượng được hoạt hóa, được đánh thức, vô vàn tài năng được bộc lộ và có thể tạo ra vô vàn của cải cho xã hội. Những tài năng đó gọi là nội lực (inner resources) là điều kiện cốt lõi giúp con người tự vượt lên chính mình, vượt qua mọi thử thách, tự khẳng định và trở thành nhân cách tự chủ, độc lập.
– Về mặt xã hội, tư duy tích cực là nguồn sáng tạo trong mỗi con người, là khả năng sáng tạo của mọi cá nhân, không có sáng tạo của mọi cá nhân, xã hội sẽ không tiến hóa. Trong một cộng đồng xã hội, trong phạm vi hẹp như gia đình, thành viên có tư duy tích cực sẽ tạo ra một môi trường lành mạnh, một xã hội đầy tính nhân văn.

2. What?
– Tư duy tích cực là khả năng suy nghĩ theo cách mà qua đó, ta có thể biến chuyển những tình huống khó khăn thành những thuận lợi. Hiện nay đang tồn tại kiểu tư duy “Thắng – thua”: trong bất kỳ tình huống nào, hoặc là ta thắng hoặc là ta thua, trong bất kỳ mối quan hệ nào cũng có kẻ thắng, người thua. Kẻ thắng thì hân hoan, người thua thì cay đắng. Bằng cách tư duy tích cực, chúng ta hãy tư duy theo cách “cùng thắng” điều này có vẻ hơi lý tưởng hóa nhưng bạn nghĩ xem nhé: nếu bạn bị mất mát một cái gì đó thì có thể bạn sẽ nảy sinh lòng thù hận => trả thù, nay thắng, ngày mai thua, liệu rằng “hạnh phúc” trong tâm của bạn có bền vững? Tư duy tích cực không phải là chối bỏ sự tiêu cực hay chỉ chấp nhận những mặt tốt đẹp thuận lợi, dễ chịu của cuộc sống. Tư duy tích cực dựa trên sự quan sát khách quan về thực tại, nhưng không ở mãi trong thực tại đó, bạn đón nhận và biến nó thành điều tốt, có lợi, hữu ích, kiến tạo và chuyển hóa những khó khăn, thử thách trong hiện tại thành những cơ hội hay ít nhất bạn cũng hiểu ra rằng những khó khăn, mang đến cho bạn những kinh nghiệm, rèn luyện cho bạn có những phẩm chất hữu ích trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống làm bạn mạnh mẽ hơn, cuối cùng là hạnh phúc hơn.
– Suy nghĩ chúng ta cần hướng đến là suy nghĩ tích cực (suy nghĩ với thái độ lạc quan, chấp nhận và khoan dung), suy nghĩ cần thiết (suy nghĩ để lập kế hoạch cho ngày làm việc của mình), suy nghĩ hướng thượng (suy nghĩ dựa trên nền tảng các giá trị, các phẩm chất của cá nhân hay của nhân loại như sự bình an, lòng nhân ái, sự hợp tác… Đó là những suy nghĩ có liên quan đến việc nhận thức ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống, hay những sự việc diễn ra xung quanh ta. Suy nghĩ hướng thượng giúp ta có một tầm nhìn xa, không mang tính vị kỷ mà hướng đến lợi ích của tất cả mọi người). Suy nghĩ cần tránh và xóa bỏ là suy nghĩ tiêu cực (suy nghĩ mang thái độ giận dữ, hẹp hòi, dằn vặt bản thân hoặc chỉ trích người khác), suy nghĩ vô ích (suy nghĩ về quá khứ, suy nghĩ về những điều vượt ngoài tầm kiểm soát của bản thân: giá như…, tại sao thế…. bao gồm cả sự nghi ngờ, hối tiếc, ảo tưởng, lo lắng về những việc nhỏ nhặt).

– Suy nghĩ và các mối quan hệ của chúng ta:
So do suy nghi va tac dong

Thực tế chung khá phổ biên ngày nay là tâm trí chúng ta thường được định hình bởi ngoại cảnh và cách đối xử của người khác “Tôi cảm thấy vui khi người khác đối xử tốt với tôi và cảm thấy khó chịu khi họ có thái độ không tốt”, bộc lộ qua việc chúng ta có cảm giác khó chịu với người khác. Dường như niềm vui, hạnh phúc của chúng ta bị quyết định bởi điều kiện và môi trường bên ngoài, bị phụ thuộc vào hoàn cảnh. Chúng ta không thể kiểm soát được điều kiện ngoại cảnh như cách cư xử của mọi người với chúng ta, thời tiết, biến đổi kinh tế,….Do đó chúng ta cần tập trung vào việc “định nghĩa” bản thân bằng những phẩm chất tích cực bên trong, chúng ta sẽ ổn định hơn và ít bị ảnh hưởng bởi sự “thăng trầm” của ngoại cảnh cũng như của những người xung quanh. Nếu giá trị của chúng ta phụ thuộc vào những gì đang có thì điều đó sẽ tạo nên nỗi lo sợ, mất mát hoặc chúng ta sẽ cảm thấy không hạnh phúc khi ai đó có nhiều hơn mình, chúng ta sẽ nhìn người khác bằng cái nhìn giới hạn. Nếu chúng ta biết nhận dạng bản thân qua cái tôi cùng với những phẩm chất tích cực bên trong, chúng ta có thể duy trì được sự ổn định của nội tại, ngay cả ngoại cảnh bấp bênh, chúng ta sẽ nhìn người khác bằng cái nhìn thấu hiểu hơn, tầm nhìn rộng hơn và tích cực hơn. Điều này cũng tạo cho chúng ta lòng tự trọng sâu sắc và bền vững, thậm chí khi bị người khác chỉ trích hay bị hoàn cảnh thử thách. Tác giả của cuốn sách “Bảy thói quen của người thành đạt” đã nói về hai vòng tròn trong cuộc đời của chúng ta: Vòng tròn Ảnh hưởng bao gồm các giá trị, thái độ, suy nghĩ… Vòng tròn Quan tâm bao gồm những điều chúng ta không thể kiểm soát được như: thời tiết, con người và tình hình kinh tế…Khi chúng ta cố kiểm soát vòng tròn Quan tâm thì sẽ tạo áp lực lên vòng tròn Ảnh hưởng, chúng ta sẽ bị tiêu hao nhiều năng lượng tích cực khiến chúng ta không thể làm việc hiệu quả. Thay vào đó chúng ta nên tập trung vào vòng tròn Ảnh hưởng bằng cách tăng cường các giá trị của bản thân, tạo ra thái độ và suy nghĩ tích cực, điều này tạo ra các sóng năng lượng tích cực, những sóng này lại tác động lên vòng tròn Quan tâm, cho chúng ta nhiều nội lực để đối phó với những tình huống khó khăn, thử thách.
Nếu chúng ta thấu hiểu rằng cuộc sống và công việc là nhằm mang lại lợi ích cho bản thân mình và cho người khác, chúng ta sẽ có hứng thú, ham học hỏi trong việc nhìn nhận những gì diễn ra xung quanh, tạo ra một sự khác biệt. Mọi người đánh giá cao những cống hiến của chúng ta, hoan nghênh sự có mặt của chúng ta và cuối cùng sẽ hợp tác với chúng ta để hoàn thành mục tiêu cao nhất của cuộc sống.

Niềm tin => Nhận thức => Tầm nhìn => Thái độ => Động cơ/Mục đích => Hành động => Thói quen => Tính cách => Số phận.

3. How?

Các công cụ trợ giúp để duy trì trạng thái tích cực:
– Hình dung: Sử dụng hình dung tích cực để tạo ra một hình ảnh mạnh mẽ rằng mình sẽ vượt qua, sẽ thành công trong bất kỳ tình huống khó khăn nào.

– Biến tiếng nói bên trong thành bạn của bạn: Xây dựng một tiếng nói bên trong sẽ khuyến khích và tạo dựng sự tự tin cho chúng ta. Bước đầu tiên là lắng nghe. Nếu nhận ra giọng nói ấy đang chỉ trích hay làm nản chí thì chúng ta quyết tâm chuyển nó thành tiếng nói hỗ trợ, khuyến khích. Sự quyết tâm rất quan trọng vì chúng ta rất hay tạo được vài suy nghĩ truyền sức mạnh cho bản thân nhưng rồi sau đó lại không quan tâm để tiếp tục điều đó.
– Xem những khó khăn là bài học: Học hỏi từ những khó khăn, không để thất bại che phủ tương lai và bào mòn lòng tự tin của chúng ta.
– Lựa chọn những lời khẳng định:
+ Thứ nhất, luôn thể hiện câu nói ở hiện tại “Tôi làm…” thay vì “Tôi sẽ làm….”
+ Thứ hai, nói những câu này ở ngôi thứ nhất: “Tôi là…”, “Tôi có thể…”.
+ Thứ ba, bảo đảm rằng những lời khẳng định này thể hiện theo cách xác định, chứ không theo cách phủ định (Thay vì tôi không bị stress bằng tôi tự do với stress).
Bảy bước chuyển phản ứng tiêu cực thành tích cực:
– Bước 1: Chú ý tới những điều bạn nói và cách bạn phản ứng với những người khác.

– Bước 2: Nếu bạn có đang có những ý nghĩ chỉ trích và phản ứng lại những người khác, hãy thay thế bằng những phản ứng hữu ích và tích cực.
– Bước 3: Bất cứ khi nào có những ý nghĩa tiêu cực về chính mình, về người khác hay về hoàn cảnh, hãy tập trung vào những khía cạnh tốt và tích cực của mình, của người khác và của hoàn cảnh hiện tại.
– Bước 4: Khi đối mặt với những thử thách, hãy chấp nhận những gì bạn không thể thay đổi và tập trung tìm kiếm những giải pháp có lợi và hiệu quả.
– Bước 5: Ghi lại những điểm tích cực của mọi người xung quanh và tập sống tốt như vậy.
– Bước 6: Khẳng định những sức mạnh, khả năng cùng mục tiêu của cuộc đời bạn là thực tế, không quan tâm tới những gì có thể khiến bạn nản lòng.
– Bước 7: Ghi nhớ rằng dù có bất kỳ chuyện gì xảy ra, bạn cũng hoàn toàn tự do lựa chọn thái độ của mình và thái độ này sẽ quyết định cách bạn xử lý tình huống như thế nào.
Xây dựng một cuộc sống tích cực:
– Học hỏi: Để phát triển tinh thần, chúng ta cần đến sự hiểu biết. Sự hiểu biết sâu sắc đặt chúng ta vào khuôn khổ đúng đắn của tâm trí, dẫn dắt ta đến với thông suốt. Trong học tập và làm việc có sự tiến bộ và trong sự tiến bộ có niềm vui. Học tập và thử nghiệm giúp chúng ta tìm thấy niềm vui trong cuộc sống.

– Kiên nhẫn: Sẵn sàng làm việc để đạt kết quả như mong muốn. Điều tốt đẹp, tích cực không thể có được ngay tức thì hay tự động mà có, chúng đòi hỏi phải có thời gian và phải trải qua quá trình tiến triển theo từng giai đoạn. Có những lúc chúng ta phải hành động nhưng có những lúc ta phải chờ đợi.
– Trung thực: Chúng ta không buộc phải hoàn hảo nhưng cần trung thực.Tính trung thực khiến chúng ta có cái nhìn thực tế trước những gì mình có thể làm được và những gì mình không thể làm được. Đừng bao giờ gây áp lực cho mình khi bước lên chiếc thang đó nếu chúng ta chưa chuẩn bị sẵn sàng, nhưng hãy luôn nhớ rằng còn có những nấc thang cao hơn so với những nấc thang mà chúng ta đang đứng. Chuẩn bị sẵn sàng vào lúc leo thang. Đó là sự trung thực. Cố gắng phấn đấu trung thực với bản thân nghĩa là giữ cho chúng ta trong tư thế sẵn sàng đón nhận những bài học từ cuộc sống, dù có làm được nhiều đến đâu, biết hoặc hiểu nhiều đến đâu, chúng ta vẫn luôn có nhiều điều để học hỏi.
– Tha thứ: Tha thứ là biết bỏ qua quá khứ, không lặp đi lặp lại một lỗi lầm. Tha thứ cho phép chúng ta sống ở hiện tại.
– Khiêm nhường mà không quỵ lụy: Khiêm nhường cho chúng ta thấy rằng chúng ta không phải là tất cả, cũng không phải là vô nghĩa, luôn ý thức được mở rộng tâm hồn để học hỏi. Ta nhận ra mọi sự vật đều có quyền tồn tại trong hòa bình, tự do và hạnh phúc.
– Tránh thói quen đổ lỗi.
– Quân bình: Chúng ta cần vững tâm để đối mặt với nhiều tình huống khó khăn nhưng đừng nên quá cứng nhắc đến độ không quan tâm đến sự đau khổ của người khác. Chúng ta nên biết hài lòng và trân trọng những gì chúng ta có được trong đời nhưng đừng bao giờ quá hài lòng đến độ không phấn đấu để tiến bộ. Chúng ta nên tự nhiên nhưng không bao giờ được bốc đồng. Chúng ta có nguyên tắc và thực hiện theo nguyên tắc nhưng không giáo điều. Nguyên tắc là cần thiết nhưng ta cần giữ sự nhạy cảm của mình với nhu cầu của người khác. Khi có sự hiểu biết sâu sắc, chúng ta sẽ đạt đến sự quân bình.

Rèn luyện được suy nghĩ tích cực là cả một quá trình, để có được điều này đồng nghĩa với việc chúng ta cần có sự hiểu biết, điều này chỉ có được khi chúng ta không ngừng học hỏi 🙂